Đặc sản Vĩnh Phúc - Đặc sản Vĩnh Phúc - 5.0 out of 5 based on 6 reviews
Xem kết quả: / 6
Bình thườngTuyệt vời 

Đặc sản Vĩnh Phúc - Cá thính chua

(CAO) Miền Trung du phía Bắc có những món ăn giản dị, dân dã từ con cá, cây cỏ vườn nhà. Chỉ với những nguyên liệu đơn giản: cá tươi, muối hột, thính (ngô và đỗ tương rang xay), người dân huyện Lập Thạch (tỉnh Vĩnh Phúc) đã tạo ra món cá thính chua nức tiếng gần xa.




Vào mùa cá “trổ” (cá đẻ), lượng cá từ các ao hồ, sông suối được đánh bắt rất nhiều. Những chú cá béo tròn sẽ được mang đi bán để tăng thêm thu nhập, còn lại, lũ cá nhỡ sẽ là nguyên liệu chính để chế biến món cá thính chua.

Cá khi mang ướp thính cần phải phân biệt, những loại cá nhỏ như trê, nheo, trạch, trôi thì mang mổ sạch, cứ để cả con mà ướp. Những loại cá to hơn như trắm, chép, mè thì cạo sạch vẩy, chặt ra thành từng khúc tuỳ theo độ dài của con cá.

Đầu tiên, cá sẽ được làm sạch ruột, bỏ đầu, để ráo nước và bắt đầu trải qua khâu đầu tiên là muối cá để cá săn lại. Người Lập Thạch sử dụng các loại vại sành, hoặc lọ thủy tinh “cao cổ” để đựng cá. Cứ một lớp cá, một lớp muối sao cho đúng định lượng 10 kg cá hết 1,5 kg muối. Lớp trên cùng của vại phải phủ kín muối, rồi dùng nan che đan thật kín để không khí không lọt vào.
Tùy vào thời tiết trời năng ráo hay âm u, chọn một vị trí thoáng mát nhất trong nhà để vại cá muối vào đó từ 4-7 ngày. Sau đó, cá được gỡ ra khỏi muối, lúc này cá đã khá săn chắc do thấm muối, tuy nhiên, phải dùng tay ép thật chặt vào mình cá để cá chảy hết nước, mang ra nắng phơi cho cá se lại.

Giai đoạn 2 là “ủ” cá với thính. Đây là giai đoạn đặc biệt quan trọng và kỳ công mới có thể tạo ra món cá thính chua thơm ngon sau này. Thính được làm từ ngô và đỗ tương rang xay thành bột. Dùng tay nhồi bột thính khắp mình cá từ trong ra ngoài thật đều.

Vại sành mang rửa lại cho sạch, để khô rồi lại xếp lần lượt cá vào vại. Mặc dù đã ướp thính khắp mình cá nhưng khi xếp vào vại, người Lập Thạch vẫn rây mỗi lớp cá thêm một lớp thính để tách các lớp cá không bị dính vào nhau khi chèn kín vại sau này.
Để tạo thơm độ thơm ngon và cũng là một “bí quyết” của ông cha truyền lại, trong vại cá thính chua, người Lập Thạch thường cho thêm lá ổi bánh tẻ đã rửa sạch để ráo nước lót quanh thành vại hoặc rơm nếp khô chèn kín phía miệng vại. Sau đó, đậy vại bằng nan tre đan thật kín phía trên.

Vì cá thính “chín” bằng cách yếm khí nên để đảm bảo tuyệt đối không khí không lọt vào cá, người Lập Thạch úp ngược vại cá vào một bát nước sôi để nguội. Hàng ngày phải ‘thăm” vại cá và thay chú ý thay nước ở bát thì sau khoảng 2 tuần, bạn mới có được món cá thính chua thơm ngon.

Cá thính chua ngon khi gỡ ra khỏi vại phải có mùi thơm nức của thính gạo, vị chua chua của thính lên men và đặc biệt, thịt cá phải có mày hồng ngấu chín. Ngon nhất là đem cá thính chua nướng qua than hoa. Nhìn miếng thịt cá nóng hôi hổi thơm phưng phức, vị chua mát, thịt cá ngọt đậm đà trên bếp than hồng có thể khiến cánh mày râu cạn ngay một “xị” rượu, còn để ăn cơm thì xem chừng quá…tốn! Riêng thính còn thừa có thể rang với mỡ lợn cũng tạo thành món ăn ngon.

DỨA TAM DƯƠNG VĨNH PHÚC

Dứa Tam Dương: Đặc sản Vĩnh Phúc: Tam Dương là huyện trồng nhiều dứa nhất tỉnh. Trước ngày kháng chiến chống Pháp (1949), từ các xã Đại Đình, Tam Quan qua các xã Đồng Tĩnh, Hoàng Hoa đến xã Hướng Đạo có nhiều trang trại trồng dứa; bà con gọi là rừng dứa. Mối rừng dứa chiếm một quả đồi; bao quanh là dây mây; bên trong trồng trám đen, trám trắng và cây dọc; dưới bóng cây này là cây dứa, bạt ngàn dứa.
Dứa Tam Dương hầu hết là dứa ta: dứa mật, dứa mỡ gà, dứa hướng Đạo...Dứa mật nhiều nước và rất ngọt. Dứa mỡ gà ruột màu vàng nhạt. vị chua. “Dứa Hướng Đạo” quả nhỏ, ruột dòn, vị ngọt mà dốt dốt chua, ăn ngon nhất.
Vào rừng dứa mùa quả chín, trông rất vui mắt. Cây dứa xanh um, lá mọc dài, cạnh sắc như lưỡi cưa đỡ lấy trái dứa vàng nơi chính giữa cứ như một bông hoa xanh khổng lồ mà quả dứa là nhụy với túm tóc xanh xanh dựng đứng trên đầu. Khách vào thăm, bao giờ chủ rừng cũng mời ăn. Có hai kiểu ăn: hoặc gọt hết cả mắt và thịt dứa bên ngoài, chỉ còn ít ruột bên trong (độ nửa quả) mà ăn thì không rát lưỡi; hoặc đập đập dứa vào gốc cây hay thớt gỗ, vừa đập vừa xoay cho cho ruột dứa nát ra nước mật, sau đó dùng dao nhọn khoét một lỗ và ghé miệng vào uống...Xin mời khách cứ ăn hay uống như thế, ăn thoải mái, miễn phí, chán thì thôi; nhưng thực tình cũng không ăn được nhiều vì quá ngọt.
Món mứt dứa được chế biến như sau: Trước hết, người ta không dùng dứa mật vì ít sơ, nấu dễ nát và quắt lại; cũng không dùng dứa hoa vì quả nhỏ quá; mà thường dùng dứa mỡ gà, ruột to vừa phải và nhiều xơ thấm được nhiều đường. Dứa chọn mua về, gọt hết mắt, cắt từng khoanh dầy độ 1,5cm, thả vào ngâm nước phèn chua. Cắt đủ mẻ nấu thì vớt dứa cho vào luộc chính tới, rồi đem ép nặng cho chảy hết nước, chỉ còn lại xác dứa. Đổ đường vào chảo nấu, cứ 1kg xác dứa thì 600g đường. Cho một ít nước lã vào đường, đun bằng than hoa, cho đường sôi tan ra và tiếp tục đun đến khi đường thành châu thì đổ xác dứa vào. Nước trong xác dứa sẽ làm đường loãng ra. Tiếp tục giữa lửa than cháy vừa phải để nước được sôi lọp bọp cho đường thấm vào xác dứa, đến khi đường thành châu trở lại là được mứt.
Mứt này làm từ mùa thu hoạch dứa để đến tết vẫn giữ nguyên màu sắc, hương vị. Miếng mứt dứa ăn dai dai, càng nhai càng ngọt, lại dôn dốt chua, rất ngon; ăn một lại muốn ăn hai

Tép Dầu Đầm Vạc: Đặc sản Vĩnh Phúc

Đầm Vạc nằm trong hệ thống sông Hồng, nước hồ được lưu thông bởi hệ thống sông ngòi của Vĩnh Phúc. Trong quần thể các đầm, hồ có giá trị cảnh quan du lịch của Vĩnh Phúc thì Đầm vạc có một vị trí trang trọng.

0 aa0damvac Tép Dầu Đầm Vạc: Đặc sản Vĩnh Phúc Sinhviendulich.NET

Đầm Vạc nằm ở giữa trung tâm Thành phố Vĩnh Yên, có 23 nhánh chính tạo ra những hồ, lạch nhỏ có chu vi 14km2. Chiều rộng trung bình 1km, diện tích mặt nước rộng gần 500ha, đáy sâu nhất 4,5m, trung bình 3,8m. Vùng này xưa kia được rừng thiên nhiên bao bọc, lắm chim nhiều cá, để những đàn cò, vạc, bồ nông, mòng, két, le le về kiếm ăn. Nhưng nổi tiếng hơn cả ở Đầm Vạc là tép Dầu, một món ăn thông dụng được nhiều người yêu thích. Tép Dầu Đầm Vạc nổi tiếng đến mức từ đời trước truyền cho đời sau câu ca:

“Cỗ chín lợn mười trâu

Cũng không bằng tép Dầu Đầm Vạc”

Tép Dầu Đầm Vạc phần nhiều chỉ bằng cái lá tre, kích cỡ chiều dài của nó từ 5-7cm, chiều ngang chừng 1cm. Tép Dầu là loại cá không cần đầu tư nuôi thả cầu kỳ. Tép Dầu khi trưởng thành bụng đầy ắp trứng. Từ tháng 8 đến hết tháng 10, khi sương chiều như làn khói xanh lam mờ toả trên mặt hồ, tép Dầu làm một cuộc hành trình quanh hồ đề đẻ trứng nhân giống cho tương lai thì người ta đi bắt chúng. Nhưng tép Dầu không thể tiệt chủng vì hàng triệu trứng trong bụng sẽ kế tiếp vòng đời của chúng. Và con tép Dầu có trứng mới là lúc ăn ngon nhất.

Trước đây, nhiều người quanh vùng thường sinh sống bằng nghề bắt loại cá này. Mỗi người phải có một chiếc thuyền nhuyễn gỗ hay thuyền thúng đan bằng tre, một cái rổ đường kính độ 80 – 90cm, sâu 35 – 40cm, có một cáng tre trên miệng rổ để nhấc lên hạ xuống cho dễ, một thanh tre đực bổ tư dài 40 – 45cm và các con mồi như ếch, nhái, lươn, ốc… miễn là có chất tanh dễ khuyếch tán trong nước. Ngoài ra, còn phải có kinh nghiệm sông nước để biết chỗ nào trong đầm có nhiều tép Dầu. Người bắt tép Dầu ngồi trên sạp thuyền dùng thanh tre đực giập mồi nát trên mạn thuyền rồi bỏ vào rổ, hai tay thả rổ xuống nước sao cho cạp rổ chìm độ 10 cm, một tay giữ rổ, một tay khoắng mồi trong rổ cho tép ngửi thấy mùi thức ăn bơi tới, có khi cả đàn đến rất đông giằng cắn mồi. Lừa lúc tép ham ăn, người bắt nhanh tay, nhẹ nhàng nhấc rổ lên khỏi mặt nước hất tép trong rổ vào thuyền. Động tác hớt tép cứ làm liên tục như thế cho đến khi hết buổi.

Cách chế biến tép dầu đơn giản. Thường có hai cách là kho và nấu canh. Trước khi kho hay nấu đều phải bóp bụng cá cho ra hết ruột rồi lấy nước muối pha loãng hòa nước nóng ấm rửa sạch sẽ. Tép Dầu thường nấu canh với dưa cải chua, dưa rau cỏ chua đồng Cốc hoặc mẻ. Đem kho cứng thì ngon hơn. Có thể kho với các loại rau quả tuỳ khả năng và sở thích của từng nhà, như dưa cải, cà bát muối, trám đen, dọc khoai sọ tươi hoặc đã phơi khô, nhất thiết phải kho bằng tương, nồi kho còn lót lá gừng tươi hoặc dăm lát gừng, tất cả đun nhỏ lửa đến cạn khô. Kho cách này, ăn vừa béo vừa bùi, vừa thơm, giữ được vị đậm, vị ngọt của loài tép này.

Hiện nay, tép Dầu Đầm Vạc vẫn xuất hiện trong các bữa ăn của nhiều gia đình, và là món ăn khoái khẩu được rất nhiều vị khách ở các nhà hàng sang trọng lựa chọn. Tép Dầu Đầm Vạc đã trở thành một đặc sản góp phần tạo nên thương hiệu cho điểm du lịch Vĩnh Yên và là món “ăn một lần có thể nhớ mãi”.

Bánh trùng mật mía Vĩnh Tường

Nếu một ngày ghé qua huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc quê tôi, sau khi thăm những bãi cát vàng chạy dài tới cuối chân trời, tắm hồ Vực xanh mênh mang, thả hồn theo những bãi cỏ lau trắng muốt, bạn đừng quên nếm thử món bánh trùng mật mía đặc sản nơi này.

Bánh trùng hấp dẫn bởi màu đỏ cánh gián của mật, thơm của gừng và chút vừng rang vàng -Tôi đã mấy lần thử hỏi nhưng các bà các cụ cao tuổi ở Vĩnh Tường hình như không ai nhớ bánh trùng có từ bao giờ, cũng không kể sự tích gì về món bánh này mà chỉ biết đây là loại bánh "anh em" với bánh trôi, bánh chay vì cách làm gần giống nhau.

Bà ngoại kể ngày xưa chỉ có nhà nào giàu có mới có bánh trùng ăn, còn nhà nghèo có thèm tới mấy cũng phải chờ tới ngày tết bánh trôi, bánh chay và ngày tiệc bánh mồng 10-10 âm lịch. Còn bây giờ, bánh trùng thường được làm để dành cho những đứa con đi xa lâu ngày mới về hay những khi nhà có khách để tỏ lòng hiếu khách.

Tôi nhớ mỗi lần làm bánh cả nhà thường quây quần bên chiếc mâm đựng bột trắng tinh vừa nặn bánh vừa trò chuyện vui vẻ, không khí gia đình ấm áp hạnh phúc vô cùng.
Cách làm bánh trùng khá đơn giản, chỉ cần nhìn qua là có thể làm được nên ở đây có những bé mới bảy tám tuổi cũng đã ngồi nặn bánh cùng gia đình.

Theo kinh nghiệm làm bánh của bà, khi làm bánh phải chọn gạo nếp ngon không lẫn tạp, hạt trắng đem đãi sạch, ngâm qua đêm để khi nghiền bột khỏi chua và bánh sẽ dẻo lâu hơn. Bột phải để ráo nước, không được cứng quá cũng không được nhão quá, vì nếu bột cứng bánh sẽ không mềm, còn nếu bột nhão khi luộc bánh sẽ nát không đẹp mắt. Sau đó, cứ nắm bột thành những nắm có hình giống quả trám, to hơn viên bánh trôi một chút là được.

Để làm ra món bánh trùng mật mía, đặc biệt bột không được đun bằng nước sôi già mà phải với mật mía. Mật mía làm bánh theo đó cũng phải là mật của làng Tân An - một làng có nghề làm mật lâu đời của huyện Vĩnh Tường. Mật sánh đặc, thơm lừng giống mùi mía nướng, màu đỏ đậm, hạt mật bám chắc vào nhau. Có vậy bánh khi đun với mật mới có màu đỏ cánh gián hấp dẫn và mùi thơm đặc biệt của bánh trùng.

Mật mía mua về hòa thêm một chút nước lọc để không quá ngọt, quá sánh, khi nấu không dễ bị cháy. Tùy theo sở thích ăn ngọt hay vừa của mỗi người mà thêm nước cho vừa miệng. Lấy một nhánh gừng tươi đập giập rồi thả vào cùng nước mật cho thơm.

Nước mật sau đó đem đun sôi rồi thả từng viên bánh vào để không dính vào nhau. Giữ lửa vừa phải cho tới khi quan sát thấy nước mật sôi trở lại, bánh trong hơn là đã chín. Múc bánh ra đĩa, phủ nước mật vừa đun lên, rắc thêm một chút vừng đã rang thơm vừa đẹp mắt và khi ăn sẽ tạo ra hương vị khá đặc biệt.

Không giống như nhiều món bánh khác, bánh trùng không có nhân mà chỉ có lớp mật mía sánh đỏ màu cánh gián phủ bên ngoài, tạo nên vị ngọt thơm cho bánh và cũng là đặc trưng riêng của loại bánh này. Vị ngọt đậm của mật mía, mùi thơm nhẹ của gừng hòa cùng lớp bánh trắng dẻo bên trong, lẫn trong hương thơm của vừng tạo nên một món ăn đặc biệt, ăn thật nhiều mà không sợ ngán.

Bánh trùng quê tôi có thể để được cả tuần lễ mà vẫn không hỏng, chỉ cứng lại. Khi ăn chỉ cần đun nóng là bánh sẽ mềm như mới làm. Bà bảo sở dĩ bánh để lâu được là nhờ lớp mật mía ngọt phủ bên ngoài nên lớp bột nếp không tiếp xúc được với không khí, mật mía ngọt nên cũng không dễ bị hỏng.

Tôi giờ sống ở Hà Nội, cuộc sống xô bồ có lúc cuốn tôi theo dòng đời hối hả, chợt một lúc nào thấy nhớ nhà lại chạy về bên bà để ăn lại món bánh quê hương, và yêu thêm mỗi phút giây đoàn tụ gia đình.
Theo TTO

Bánh nẳng - bánh gạo rang (Lập Thạch)

Người Lập Thạch có câu: "Bánh Nẳng chợ Tràng, bánh gạo rang Tiên Lữ". Vùng chợ Tràng (Đạo Nội, Đôn Nhân, Đôn Mục) xưa có bánh Nẳng ngon có tiếng.




Bánh Nẳng làm bằng gạo nếp cái hoa vàng. Gạo đãi sạch ngâm trong nước Nẳng một đêm. Để có nước Nẳng, người ta phải lấy các cành xoan tươi, cành bưởi tươi (cả lá), trã vừng, lá dáng, lá si, và không thể thiếu tầm gửi cây dọc...


Các loại cành lá trên đem đốt lấy tro. Hoà tro vào chậu nước, lọc lấy nước trong bỏ bã. Múc một bát nước để thử. Nhá dập miếng trầu rồi thả vào bán nước Nẳng. Nếu màu nước chưa đỏ tươi, phải hoà thêm tro vào. Nếu nước Nẳng đỏ thậm thì phải hoà thêm nước lã cho nhạt bớt để có đỏ tươi màu cờ. Dùng nước Nẳng để ngâm gạo, ngâm qua đêm, vớt gạo ra để róc nước cho khô rồi gói bằng lá chít đã luộc và rửa sạch. Luộc bánh trong dăm sáu tiếng đồng hồ vớt ra bóc thấy hạt gạo nhừ trong suốt dính vào nhau vàng như sáp o­ng là được.

Hiếm có nơi nào bánh Nẳng khéo hơn, ngon hơn vùng chợ Tràng.

Bánh gạo rang cũng làm bằng gạo nếp hoa vàng. Gạo ngâm trong nước quả vàng dành cùng ruột cỏ bấc đèn, cây dáy và tro cây vừng đốt ra. Ngâm trong ba ngày, vớt gạo để khô cho vào chõ xôi lên. Xôi chín đem trộn đều với mỡ lợn, rải ra nia rồi dùng vồ nhẵn bôi mỡ đập đi đập lại trong vài giờ cho hạt xôi bẹt ra. Sau đó lại phơi khô.

Đem vào trong bóng râm để nguội rồi lại trộn mỡ lợn đổ vào chảo rang cho nổ bung ra. Đun sôi mật, nhúng đũa kéo lên thấy mật đỏ mới đổ gạo rang vào đun, quấy đều rồi đổ ra, dàn mỏng trong mâm hoặc thớt, ván nhẵn. Dùng đoạn cây tròn nhẵn lăn đi lăn lại cho bánh lèn chặt. Dùng thước và dao sắc cắt thành từng cái bánh to nhỏ theo ý muốn rồi đem gói trong giấy bóng kính. Ngày xưa vào kỳ tiệc làng, dân Tiên Lữ làm bánh gạo rang để cúng thần và làm quà biếu đặc sản của điạ phương.

Thơm thảo đĩa chè kho Tứ Yên Lập Thạch

Cũng là ăn chè nhưng chẳng phải bằng cốc mà bằng… đĩa. Đĩa chè kho vàng mịn, thơm ngọt là món ăn truyền thống của người Việt, đặc biệt trong mỗi dịp xuân về tết đến.

Chè kho - Ảnh: Đặng Hà

Tương truyền vào thế kỷ 6, làng Tứ Yên, huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc có đầm Miêng được sử sách ghi là hồ Điển Triệt, nơi Lý Bí đắp thành chống giặc nhà Lương. Nhân dân thường tiếp tế lương khô, trong đó có món chè kho cho quân lính của Lý Nam Đế. Chè kho có thể để được 10-15 ngày không bị thiu ôi nên được nghĩa quân tích trữ làm lương khô, mang theo trận mạc dài ngày, đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi.

Sau này nhân dân dựng miếu để thờ Lý Nam Đế và hằng năm mở tiệc vào ngày 24, 27 tháng 5 (âm lịch), cỗ cũng phải có món chè kho để tưởng niệm sự kiện lịch sử trên.
Chè kho được nhắc đến như là một thứ đặc sản của những vùng miền làng Khả Phong, Kim Bảng, Hà Nam, cả làng đều nấu chè nhân dịp ngày tết. Người gốc Nam Định đi xa cũng nhớ đến món chè kho thơm thảo tình quê hương. Tháng 3 đến hội Phủ Dầy, Nam Định mà chưa ăn miếng chè kho thì thật là tiếc.

Sau bữa tiệc đình, các vị bô lão, quan viên trong làng cùng ngồi thưởng thức món chè kho, sau đó còn có phần chè kho đem về làm quà cho con cháu. Niềm vinh hạnh như được nhân lên gấp nhiều lần, vì thế có cụ còn kính cẩn đặt bát chè kho lên bàn thờ gia tiên tận mấy tuần sau để lưu lại niềm vui.

Món chè kho dân dã từ cách làm đến cách thưởng thức. Nguyên liệu làm chè chủ yếu là đỗ (đậu) xanh. Mấy ngày giáp tết, ra chợ chọn lấy vài lạng đỗ xanh. Đỗ phải là loại đỗ mới, hạt đều và thơm. Đem ngâm no nước và đãi sạch vỏ, rắc vài hạt muối lên, để ráo rồi cho vào đồ cho đỗ chín rục. Đổ đỗ chín ra cối giã nhuyễn, hòa đường trắng với nước đun sôi để nguội, trộn đỗ xay và nước đường, nhào cho thật đều tay.

Đây là công đoạn đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo tay nhất của người nấu. Khoắng đều tay để chè không bị khê, cho đến khi thấy bột nhuyễn, dậy mùi thơm ấy là chè đã được. Giờ đây nồi điện rất sẵn nhưng chẳng thể nào nấu chè ngon như nấu bằng nồi gang trên bếp lửa liu riu.
Chè kho được đơm từng muỗng ra chiếc đĩa nhỏ, qua miếng lá chuối đã chuẩn bị sẵn, dùng tay nén cho đĩa chè kho được tròn, mịn và chặt. Có nén chặt mới để được lâu, khô và giữ được mùi thơm, ra ngoài tết vẫn còn ăn được.
Chè kho có vị thơm của đỗ, ngọt của đường và quyện dẻo. Hấp dẫn nhất là đĩa chè có màu vàng tươi, mịn màng của đỗ giã nhuyễn, lấm tấm màu nâu của vừng phủ bên trên, vị chè ngọt đậm khác hẳn với những loại chè khác.

Trong món ăn mời khách của người Hà Nội xưa, chè kho là món không thể thiếu. Có gia đình làm chè để cúng gia tiên. Khách đến chơi nhà chúc tết, chủ nhà thường cắt từng miếng chè kho ra mời khách thưởng thức cùng với chè sen. Nếu gia chủ khéo tay, đĩa chè kho còn được đơm theo khuôn, cắt thành từng miếng hình hoa thị.
Bây giờ chè kho không đơn thuần là món ăn của ngày tết mà ta có thể gặp món ăn ấy ở ngoài chợ hay những con phố Hà Nội. Ở nhà, các bà các mẹ cũng có thể tự tay làm chè kho đãi gia đình.

Cũng là ăn chè nhưng chẳng phải bằng cốc mà bằng đĩa. Đĩa chè kho tuy dân dã mà gửi gắm tất cả mong muốn về một năm mới an lành, viên mãn. Vừa thưởng thức món chè kho, vừa nhâm nhi chén trà sen. Hơi ấm của chén trà nóng lan tỏa, quẩn quanh khiến lòng người như lắng lại, cảm nhận sự giao hòa của đất trời vào xuân.

Món ăn ngọt từ đậu xanh với ba miền đất nước có ba cách chế biến và tên gọi khác nhau.
Với người miền Bắc thường nấu món chè kho vào dịp tết để dâng cúng tổ tiên hoặc những ngày lạnh để ăn dần.

Vào miền Trung, cũng đậu xanh, đường cát trắng, cũng cùng một cách nấu nhưng chè được múc vào chén và loãng hơn. Người miền Trung gọi là chè đậu xanh đánh.

Một loại chè cũng từ đậu xanh mà người miền Nam gọi là chè táo xọn. Hấp đậu xanh cho chín đều, khuấy bột năng với đường cát trắng nhỏ lửa cho nước bột sánh lại trong veo rồi trút đậu chín vào trộn đều, thêm chút dầu bưởi là có được món chè hương vị thanh tao, điểm vàng loáng thoáng, mới ăn bằng mắt đã thấy lòng mát rượi.

Theo
TTO

Gạo Long Trì - Tam Dương

Thời xa xưa, dân Tam Dương (Vĩnh Phúc) đã có câu: “Dứa Hướng Đạo, gạo Long Trì” để tôn vinh những nông sản nức tiếng của vùng. Dứa Hướng Đạo nổi tiếng thơm ngon, gạo Long Trì nức danh nhiều chốn đến mức vua Bảo Đại còn cho người về tận nơi mua để cung tiến. Hồi ấy Long Trì toàn cấy lúa ri, lúa rảnh, lúa câu dài ngày, năng suất chỉ độ dăm bảy chục cân/sào nên dần dà những giống ấy mất hết. Dân sở tại giờ chỉ cấy toàn loại giống “hàng chợ” thông thường

Tam Dương là huyện nằm ở vị trí phía Bắc của tỉnh Vĩnh Phúc, trung tâm huyện lỵ cách quốc lộ số 2 khoảng 6 km. Nơi đây là vùng đất bán sơn địa, được thiên nhiên ưu đãi về điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng đặc thù, cộng thêm quy trình canh tác, chăm sóc phù hợp đã sản sinh ra một số sản phẩm có chất lượng, giá trị ẩm thực cao. Đặc trưng là gạo Long Trì được cấy từ một số giống lúa khác nhau (xa xưa là các giống lúa câu, lúa dảnh, lúa dé, lúa di, lúa tám, và ngày nay là các giống HT1, Hương Cốm, TH3-3). Địa danh Long Trì được gắn liền với sự tích rồng nước, rồng núi của người dân nơi đây, một phần của sự tích này đã được đặt tên cho thôn Long Trì thuộc xã Đạo Tú - huyện Tam Dương, nay là thị trấn Hợp Hoà - huyện Tam Dương - tỉnh Vĩnh Phúc.


Nhãn hiệu Gạo Long Trì - Tam Dương đang được tiến hành bảo hộ

Gạo Long Trì thơm, ngon, dẻo, hạt đều, trắng, hàm lượng dinh dưỡng (Protein, Glucid, tinh bột) đều cao hơn so với các sản phẩm gạo khác trong vùng. Vì vậy gạo Long Trì đã từng được ca tụng trong khu vực qua câu nói cửa miệng của nhân dân khi đem ra so sánh về chất lượng với các sản phẩm cùng loại Dứa Hướng Đạo - Gạo Long Trì, ý nói 2 sản phẩm có giá trị vượt trội.




Dù trồng giống gì, gạo Long Trì vẫn ngon hơn nơi khác vài bậc vì có thổ nhưỡng, tiểu khí hậu đặc biệt


Hiện nay gạo Long Trì đang được mở rộng quy mô sản xuất theo quy trình gieo trồng, kỹ thuật chăm bón đồng nhất, góp phần duy trì chất lượng, hàm lượng dinh dưỡng và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, giúp người dân địa phương giữ gìn được giá trị ẩm thực truyền thống không bị mai một và phát triển cho sản phẩm, tạo ra vùng gạo đặc sản của tỉnh Vĩnh Phúc.

Bánh gio làng Tây Đình - Tam Hợp - Bình Xuyên Vĩnh Phúc

Bánh gio Tây Đình (Bình Xuyên, Vĩnh Phúc) - còn gọi là bánh nắng - ngon có tiếng, hơn hẳn các nơi khác về cả màu sắc và hương vị. Bí mật làm nên tấm bánh gio ở Tây Đình nằm trong khâu chọn nguyên liệu, cách ngâm gạo và thời điểm gói bánh, luộc bánh...
Dân làng Tây Đình, xã Tam Hợp (Bình Xuyên - Vĩnh Phúc) mỗi năm được ăn hai cái Tết lớn: Tết nguyên đán và Tết 12 tháng tám âm lịch, thường gọi là Tiệc làng. Những ngày này, ngoài cỗ bàn thịnh soạn, mọi nhà còn làm ra nhiều thứ bánh, trong đó bánh chưng vuông và bánh nắng dài là hai thứ bánh không thể thiếu trên các bàn thờ. Bởi ngoài tính âm dương giao hòa, hai loại bánh này còn mang ý nghĩa phồn thực.
Bánh nắng, ở đây gọi là bánh gio Tây Đình ngon có tiếng và hầu như các bà, các chị ở làng ai cũng biết làm bởi nguyên liệu luôn có sẵn tại vườn nhà. Bụi lá chít ở góc vườn, cây gai sương song ngoài bờ rào, tầm gửi cây dọc trên gò cao... Bí mật làm nên tấm bánh gio ở Tây Đình nằm trong khâu chọn nguyên liệu, cách ngâm gạo và thời điểm gói bánh, luộc bánh...
Gạo nếp thật ngon đem sàng sảy kỹ, chọn bỏ các hạt xấu và gạo tẻ lẫn vào. Vo gạo thật kỹ, thay nước nhiều lần, bao giờ thấy nước gạo thật trong mới thôi. Để gạo thật ráo nước rồi đem ngâm vào nước vôi trong chừng 2 giờ đồng hồ. Lại vớt ra đợi hạt gạo thật khô tơi mới đem ngâm vào nước nắng qua một đêm.
Cách làm nước gio ở đây cũng giống như các nơi khác nhưng nguyên liệu chỉ dùng gio than của ba loại cây: Tầm gửi cây dọc, thân lá cây vừng khô và thân cây sương song (cây gai nhể ốc).
Lá chít đem luộc thật kỹ và thay nước nhiều lần cho phai hết chất diệp lục. Mỗi chiếc bánh gio chỉ cần dùng 2 hoặc 3 chiếc lá chít. Gạo nếp đã ngâm nước nắng lên màu hổ phách được vớt lên cho ráo nước. Dùng muôi xúc gạo đó cho vào giữa lá chít đã rửa sạch lau khô, dàn gạo đều và dài ra, gói lại lăn tròn vấn bẻ hai đầu lá kín lại dùng lạt mềm buộc chặt. Mỗi cái bánh gio chỉ dài chừng hơn gang tay đường kính nhỉnh hơn ruột quả chuối tiêu nên chỉ cần luộc ba giờ đồng hồ bánh đã rền. Bánh để nguội bóc cắt ra từng khoanh, nhìn thấu qua trong suốt màu sáp ong đã thấy ngon, đem chấm cùng mật giọt càng hấp dẫn.
Trong quá trình làm bánh gio, việc kiêng kỵ nhất là tất cả từ nguyên liệu đến dụng cụ đều không để dính chút dầu mỡ nào. Vì vậy bánh gio ở đây thường được làm xong từ trước lễ tết vài ba ngày, trước khi mổ lợn, mổ gà... Chỉ bị dính "tí" dầu mỡ là ruột bánh sẽ không rền và liên kết để tạo nên độ dai và các hạt gạo sẽ không trong suốt nên chất lượng bánh giảm hẳn.
Người Tây Đình ít ai làm bánh gio đem bán mà chỉ làm để ăn Tết và biếu tặng họ hàng, bè bạn xa gần. Ai đã được ăn bánh gio Tây Đình đều nhớ mãi vì ngon hơn hẳn bánh ở các nơi về cả màu sắc và hương vị.

(Theo Văn Hoá Nghệ Thuật Ăn Uống)

Bánh ngõa Lũng Ngoại

Các cụ cao niên làng Lũng Ngoại cho biết: Ngày xưa các cụ thượng thọ mới được làm một mâm bánh xếp theo hình nón cụt (độ một yến bánh) trên mâm đồng để rước ra đình kính thần. Muốn có mâm bánh đó, gia đình phải mổ một con lợn để mời con cháu trong gia tộc đến phục vụ làm bánh.


Muốn có được hai chục cái bánh ngoa, phải chuẩn bị: Gạo nếp loại tốt và thơm lkg, mật mía hay đường 200g, đỗ xanh 1,5kg

Gạo nếp nhặt hết sạn, vo đãi sạch, đề ráo nước, chờ gạo khô nghiền thành bột nhỏ mịn. Đậu xanh xay vỡ đôi ngâm qua nước để vỏ đỗ bong ra, đãi sạch vỏ rồi để đỗ khô, lấy 300g đề riêng dùng nấu nhân. Số đỗ còn lại đem sao trên lửa đến khi hạt đỗ có màu vàng hạt dẻ, giòn là được; để nguội đem nghiền thành bột nhỏ mịn. 300g đỗ kia cho vào nấu với 200g mật thành chè kho. Trộn nước với bột gạo nếp nhào dẻo thành một cục, chia ra thành hai chục viên nhỏ, rồi dàn mỏng từng cục như cái đĩa con, cho chè kho vào giữa làm nhân rồi vê kín bánh. Đun nồi nước cho sôi sẵn ở nhiệt độ cao rồi thả tất cả hai chục bánh vào luộc; khi thấy bánh nổi lên là đã chín; vớt nhẹ từng cái, chờ ráo nước se mặt, cho bánh vào mâm đã rắc bột đậu làm áo, giở đều hai mặt bánh cho ngấm nhiều bột áo là tốt, cứ lăn chiếc bánh trên mâm bột cho tới khi bánh không dính bột đậu nữa, cầm bánh thấy không dính tay là được…Bánh ngõa ăn dai dai, bùi bùi, ngọt ngọt, càng nhai càng thấy béo ngậy như bánh được xoa mỡ, đó là nhờ có tinh dầu bột đậu xanh làm áo bánh.

Rượu dừa Tiên Tửu Ngọc Hoa(Yên Lạc)



Một chủ cơ sở chế biến nông sản đã nghiên cứu sản xuất thành công sản phẩm rượu dừa Tiên tửu Ngọc Hoa độc đáo và có chất lượng cao, được người tiêu dùng ưa chuộng.
Anh Nguyễn Văn Họa, chủ Cơ sở thu mua chế biến nông sản Ngọc Hoa, xã Yên Đồng, huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc, cho biết rượu dừa Tiên tửu Ngọc Hoa được chế biến từ các nguyên liệu hoàn toàn tự nhiên, làm theo phương pháp cổ truyền lên men và bảo quản trong trái dừa còn nguyên giúp loại bỏ hoàn toàn độc tố có lợi cho sức khỏe.

Sau khi sơ chế phần vỏ, quả dừa được tiêm vào hỗn hợp gồm nếp cái và men theo một tỷ lệ nhất định hàn kín lại đem ủ cho đến khi có đủ hương cay nồng đặc trưng của rượu và vị thơm ngọt từ nước dừa.

Quả dừa làm rượu phải là dừa già của Bến Tre (lớp cùi dừa nhiều, hàm lượng dầu nhiều và thơm), đường kính quả từ 16-1 8cm, nặng từ 1,2 - 1,4kg. Nếp cái phải chọn loại căng tròn hạt mẩy. Men rượu là men cổ truyền của người Việt.

Rượu dừa Tiên tửu Ngọc Hoa, khi đưa lên miệng thưởng thức có mùi thơm mát đặc trưng của hương dừa, khi uống có vị ngọt nhẹ, đặc biệt không gây cảm giác háo nước, đau đầu... Rượu rót ra ly có màu trắng ngà nhiều chấm xác dừa lơ lửng. Sản phẩm phù hợp cho mọi người, có thể dùng trong các bữa ăn hàng ngày hoặc các buổi tiệc.
 
Share

Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 
Trang Chủ >> Tin tức >> Tin tức >>

Số lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay4630
mod_vvisit_counterHôm qua5960
mod_vvisit_counterTrong tháng17699
mod_vvisit_counterTất cả1243712

Hiện có: 23 khách, 1 thành viên, 4 bots Trực tuyến

Hỗ trợ kinh doanh

online 1
Kinh doanh
 
online 2

Kinh doanh

My status
Hiện có 28 khách Trực tuyến

Đường đi

Cửa hàng TPHCM:


Xem Cửa hàng đặc sản Phan Rang ở bản đồ lớn hơn