.

Tin tức

Email In PDF.

Mẹo luộc gà ngon, mềm, không nát

Luộc gà sao cho ngon, thịt không nát, da vẫn tươi bóng còn nguyên vẹn; thịt bò xào mềm, ngon… là kinh nghiệm nội trợ mà phụ nữ nào cũng muốn đạt được.

Với món gà luộc, nếu luộc kỹ thì lớp da và thịt bên ngoài bị nhừ; nếu giữ được lớp da ngoài còn độ dai, giòn thì lớp thịt và xương chặt ra sẽ còn máu đỏ. Vì thế, bạn nên cho gà vào lúc nước còn nguội để da không bị nứt vỡ, thịt sẽ chín dần từ ngoài vào trong. Lưu ý với gà đông lạnh, cần để rã đông hoàn toàn rồi mới luộc. Nếu cho vào luộc ngay bạn phải luộc rất lâu và không biết khi nào thịt mới chín hẳn.

Nồi luộc nên có đường kính vừa phải, thành cao, sao cho lượng nước không lớn lắm vẫn đủ ngập gà, nước sẽ ngọt hơn.

Khi nước sôi hãy vặn nhỏ lửa, luộc gà trong nước sôi vừa phải, lăn tăn, không sủi sóng. Bạn luộc chừng 20 phút là được. Có thể dùng đũa chọc vào gà, nếu xuyên qua dễ dàng nước ứa ra không có màu hồng là gà đã chín.

Để giữ được màu da tươi sáng của gà, khi gà vừa chín tới, bạn cần vớt ra khỏi nước sôi và ngâm ngay vào nồi nước lạnh. Ngâm đến khi nào thịt gà nguội hẳn mới nhấc ra. Sau đó để ráo nước rồi mới chặt, miếng thịt sẽ không bị nát.

Để thịt bò xào được mềm và ngon thì khi thái thịt sống phải làm theo đúng phương pháp: trước hết phải cắt bỏ gân, sau đó cắt thành miếng dài thuận theo thớ thịt rồi mới thái ngang thành miếng mỏng.

Với thịt bò xào, ngâm tẩm là một khâu quan trọng, quyết định nhiều tới chất lượng miếng thịt đã chín. Trong thành phần ngâm tẩm ngoài gia vị phải có dầu ăn, một chút nước và tinh bột, tất cả được trộn kĩ; để yên vài phút, dầu nước và tinh bột sẽ bị thịt bò hút khô. Sau đó cho lên xào, khi bị nhiệt tác dụng vào nước và dầu trong các thớ thịt bò sẽ nở phình ra rất nhanh, giúp làm mềm thịt bò.

Tỉ lệ dầu và nước phải thích hợp, dầu ít thì thịt sẽ khô xác, nước ít thì thịt sẽ không mềm. Khi xào cần phải tác dụng nhiệt một cách nhanh, mạnh, thời gian xào chớ nên kéo dài.

Theo Lao động

 

 
Email In PDF.

Các địa điểm du lịch tại Vũng Tàu

Bạch Dinh:

bach_dinh.jpgBạch Dinh dọc theo bãi trước về phía Núi Lớn, chúng ta luôn trông thấy một dinh thự màu trắng, mái ngói đỏ sừng sững trên núi nổi bật trên nền xanh tươi của cây cỏ. Đấy chính là Bạch Dinh.  

Bạch Dinh được người Pháp xây dựng năm 1898 đến năm 1916 dùng làm nơi nghỉ mát cho toàn quyền Pháp Paul Doumer và được gọi là Villa Blanche theo tên cô con gái yêu của ông ta, dân địa phương quen gọi Bạch dinh là biệt thự trắng.Sau đó nhiều đời toàn quyền đông dương (người Pháp) cũng dùng Bạch Dinh làm nơi nghỉ ngơi giải trí nên gọi là Villa Dugouverneur (Dinh toàn quyền).

Sau này Ngô đình Diệm, Nguyễn văn Thiệu cũng lấy Bạch Dinh làm nơi nghỉ ngơi giải trí nên Bạch Dinh còn có tên là Dinh ông Thượng.Phía trước Bạch Dinh hướng ra biển. Tại đây có thể nhìn bao quát cảnh bãi trước, núi nhỏ, núi lớn nhìn thẳng xuống ta sẽ thấy hòn Hải ngưu, đó là mũi đá nhỏ nhô ra biển có hình dáng một con trâu nằm dưới nước bây giờ Bạch dinh được là dùng nhà bảo tàng trưng bày cổ vật tìm được ở Hòn Cau - Côn Đảo.

Tượng chúa Kitô:

chua_kito.jpgTheo đường vòng núi nhỏ (đường Hạ Long) từ bãi trước qua bãi Dứa đến mũi Ninh Phong. Tượng chúa được xây dựng từ năm 1972 những công trình bị bỏ dở, do yêu cầu cuả đồng bào giáo dân ngày 28 tháng 1 năm 1992 UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã quyết định xây dựng tiếp công trình tượng chúa trên Núi Nhỏ. Sau hai năm xây dựng ngày 2 tháng 2 năm 1994 công trình đã được hoàn tất. Tượng chúa được xây dựng trên núi cao 136 mét và cao so với mực nước biển 176 mét. Tượng đài cao 31 mét, hai tay dang rộng 18,4 mét được đặt trên một ngôi nhà hình vuông có trạm trổ chúa và 13 tông đồ trên mặt tượng.

Phía trong bụng tượng có thể chứa được hàng trăm người đi trên 133 bậc thang được làm bằng đá mài. Từ hai tay của tượng ta có thể nhìn bao quát được toàn bộ thành phố Vũng Tàu. 

Hải Đăng:

hai_dang.jpgHải Đăng Vũng Tàu được xây dựng từ năm 1907, lúc đầu đặt ở mỏm thấp của núi nhỏ, thắp bằng dầu năm 1911 được xây dựng thành tháp tròn có đường kính 3 mét cao 18 mét được làm trên đỉnh cao nhất của núi nhỏ có độ cao 170 mét.

Hải đăng Vũng Tàu dọi xa đến 35 hải lưu có kính viễn vọng để theo dõi tàu và hướng dẫn thuyền trên biển.

 

 

 

Núi Lớn:

nui_lon.jpgVũng Tàu có hai hòn núi là Núi Lớn và Núi Nhỏ. Núi Lớn có diện tích khoảng 400 ha, có ba đỉnh lớn là Vũng Mây, Núi Lớn và Hòn Sụp.

Theo đường Núi Lớn (đường Trần Phú ) quanh sườn núi từ Bến Đình sẽ đến chùa Thích Ca Phật Đài, Bãi Dâu, đến Bãi Trước dài 10 km, đường dốc quanh co, trên là núi, dưới là biển, phong cảnh hữu tình, hùng vĩ lên thơ. Có nhiều thắng cảng dọc đường đi như tượng Đức mẹ, tượng Phật Bà Quan Âm, Bạch Dinh ...

Núi Nhỏ:

nui_nho.jpgNúi Nhỏ có diện tích khoảng 120 ha, đỉnh núi cao 170 m. Về truyền thuyết, Núi Nhỏ mang tên Tao Phùng kể về câu chuyện giữa người con gái vua Thuỷ Tề và một chàng trai làng chài.

Theo đường vòng Núi Nhỏ (đường Hạ Long) chạy từ bãi trước qua Bãi Ô Quắn, Bãi Dứa đến mũi Nghinh Phong và ra Bãi Sau dài khoảng 6 km. Đường mới, rộng và đẹp. Hai bên đường có nhiều điểm du lịch hấp dẫn như Bãi Trước, chùa Niết Bàn Tịnh Xá, tượng Chúa Kitô, Hòn Bà ...

 

Lăng cá ông:

lang_ca_ong.jpgLăng Cá Ông nằm trên đường Hoàng Hoa Thám , trong khuôn viên rộng và thoáng mát trong cả quần thể gồm đền thần Thắng Tam và miếu Bà Ngư Hành. Chuyện kể rằng, vào thế kỷ XIX có một đầu cá Ông rất lớn trôi dạt vào Bãi Sau. Đầu cá to đến nỗi không thể kéo lên bờ nên ngư dân địa phương phải lấy gỗ, tre rào lại cho thịt rữa hết rồi tháo từng khớp xương rửa sạch đem về thờ tại một miếu sơ sài tại Bãi Trước. Cùng thời gian đó ở Cần Giờ, có một thân cá và ở Long Hải có một đuôi cá dạt vào bờ. Do vậy trong giới ngư phù có một truyền thuyết cho rằng Cá Ông này là vị Tướng quân được Long Vương ra lệnh phải bảo vệ và giúp đỡ thuyền bè qua lại trong vùng biển này. Những vị Tướng quân này không hoàn thành nhiệm vụ khiến cho chiếc tầu bị đắm trong cơn bão tố, nên Long Vương nổi giận hạ lệnh chém làm ba khúc

Đối với ngư dân khắp vùng biển phía Nam thì Cá Ông được xem là loài linh thiêng thường hay cứu giúp những con thuyền gặp sóng to gió lớn. Vì vậy mỗi khi có xác Cá Ông trôi dạt vào bờ, thì người đầu tiên trông thấy được coi là con trưởng nam, phải có bổn phận để tang và lo toan việc chôn cất xác cá thật chu đáo. Khoảng 40 năm sau lại có một xác Cá Ông lớn trôi vào Bãi Sau, dân làng được tin kéo tới đem xác cá lên bờ rồi chôn cất tử tế. Đến năm 1911, ngư dân địa phương chung nhau góp tiền xây một Lăng tại khu vực lăng hiện nay, rồi đào xương cá Ông này và dời xương cá Ông trước đó về thờ trong lăng. Từ đó Lăng được nhiều lần tu bổ và đến tháng 4 năm 1969 được sửa chữa có hình dáng như hiện nay. Giữa lăng là bàn thờ được trạm trổ công phu các hình long, ly, quy, phụng giao đầu, cá hoá Rồng giỡn sóng. Phía sau bàn thờ là ba tủ kính lớn đựng xương cá. Tủ bên trái đựng xương cá Ông nhỏ vớt được trong những lần sau. Ngày vua Ông (ngày Giỗ) được định vào ngày 16 tháng 8 âm lịch hàng năm.Vào ngày nay, ngư dânVũng Tàu kéo về làm lễ cúng bái rất linh đình, trọng thể

Cảng Cầu Đá:

cang_cau_da.jpgCảng Cầu Đá được xây dựng tế năm 1896 nhằm phục vụ cho mục đích quân sự, đồng thời phục vụ cho việc bốc xếp về kho, hàng hoá phục vụ cho thành phố nghỉ mát và các căn cứ quân sự.

Tiền cảng Vũng tàu là một con đê dài hơn 400m, chân đê rộng 15m, mặt đê rộng 4m được kè bằng đá đổ bê tông chạy dài tế mũi phía bắc Núi Nhỏ ra giữa biển, song song với bãi trước. Đê cảng Vũng Tàu được kỹ sư Pháp thiết kế và thị trưởng Vũng Tàu lúc đó phê duyệt và thi công.

Tiền cảng được xây dựng và sử dụng chưa tới bảy năm đã hư hỏng do những tính toán sai lầm của người Pháp. Cùng với trận địa pháo trên Núi Nhỏ, Cầu Đá Bãi Trước hợp thành một quần thể di tích đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng cấp quốc gia.

Hòn Bà:

hon_ba.jpgHòn Bà là một hòn đảo nhỏ, dưới chân đảo sóng biển đánh tung bọt trắng xoá rất lên thơ, nằm phía ngoài biển theo đường hạ Long vòng Núi nhỏ, Từ Bãi Trước, qua Bãi Dứa đến mũi Nghinh Phong. Hòn Bà nằm cách chân Núi Nhỏ khoảng 200m. Năm 1881 ông Hồ Quang Minh gốc miền Trung đã bỏ kinh phí ra xây dựng một ngôi miếu nhỏ trên đảo gọi là Miếu Bà.

Miếu Bà hiện nay có chiều cao nổi trên mặt đất là 4m. Trong là điện thờ các vị thần linh. Bên dưới có một tầng hầm dài 6m rộng 3m, trước kia tếng là nơi hội họp bí mật của đồng bào yêu nước chống đế quốc.

Khi thủy triều xuống thấp, có thể men theo một lối đá chập trùng để ra đảo. Ngày rằm hay mồng một, bà con thường ra đảo rất đông để thắp hương cầu may tại ngôi miếu nhỏ này.

Vũng Tàu Paradise:

vt_paradise.jpgPiz 1 : Khu du lịch thiên đường với những thú vui giải trí phong phú dựa vào mẫu của người châu Âu, những khu vườn theo kiểu Châu Âu và Trung Quốc, phòng Karaoke hiện đại. Đã khai trương tế ngày 19/3/1995.

Piz 2 : Câu lạc bộ Marina : Những sinh hoạt thể thao trên biển với nhiều trò đặc sắc, hấp dẫn như: thuyền buồm, thuyền máy ... bãi đậu xe rộng rãi, nhà hàng với thiết kế độc đáo, trang nhã phục vụ những món ăn biển.

Piz 3 : Câu lạc bộ sân golf Paradise là sân golf bờ biển đầu tiên tại Việt Nam, Chọn kiểu gôn, chọn lỗ nổi tiếng của Anh, Mỹ, phù hợp với tất cả mọi người.

Căn cứ Minh Đạm:

minh_dam.jpgNúi Châu Long - Châu Viên ở đông Nam huyện Long Đất ,Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cách thành phố Vũng Tàu 30km. Từ Đông xang Tây dài 8km điểm cao nhất là 355m. Ba mặt giáp biển, có nhiều hang động hiểm trở. Dãy núi này là căn cứ chống Pháp, Mỹ của Tỉnh uỷ Bà Rịa và Huyện uỷ Long Điền. Năm 1948 đổi tên là căn cứ Minh Đạm, đó là ghép tên của hai đồng chí Bùi Công Minh và Mạc Thanh Đạm là bí thư và phó bí thư huyện uỷ Long Điền đã hy sinh tại đây.

Căn cứ Minh Đạm bao gồm 4 khu : Chùa Viên, Đá Chẻ, Chùa Giếng Gạch, Đá Chồng.

Căn cứ Minh Đạm được công nhận là di tích lịch sử theo quyết định số 57/QĐ VHTT ngày 18/01/1993 của Bộ Văn Hoá Thông Tin.

Nhà tưởng niệm nữ anh hùng Võ Thị Sáu:

vo_thi_sau.jpgNgôi nhà lưu niệm nữ liệt sỹ anh hùng lực lượng vũ trang công an nhân dân Võ Thị Sáu thật đơn sơ, khiêm nhường bên tỉnh lộ 23 ,cách thị xã Bà Rịa 12km về phía Tây, thuộc xã Phước Long Thọ, Huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tầu. Ngôi nhà có lối kiến trúc dân dã đặc trưng của làng quê Việt Nam. Xung quanh được che bằng các tấm ván gỗ, mái lợp ngói âm dương, nền đất. Căn nhà dài 10m, rộng 3m gồm 2 phòng nhỏ. Phòng ngoài rộng 5m, ở giữa bài trí tủ thờ gia tiên, kế sát bên vách phía phải là bộ đồ ván gỗ nơi chị em Sáu thường nằm ngủ. Phía trong là nơi nghỉ của ông bà song thân. Nối giữa phòng ngoài và vòng trong là một hành lang nhỏ thông ra phía sau nhà.

Cách đó chừng 50m về hướng đông nằm kế ngã tư¬ tỉnh lộ 32 là khu công viên tượng đài nữ anh hùng Võ thị Sáu đặt trang trọng tại công viên, bốn mùa bát ngát hương hoa sứ, ngọc lan, lêkima. Tượng đúc bằng đồng, cao 7m do tác giả Thanh Thanh sáng tác, diễn tả tư thế chị Sáu ung dung ra pháp trường với tà áo tung bay trong gió.

Địa đạo Long Phước:

dd_long_phuoc.jpgThuộc xã Long Phước thị xã Bà Rịa là căn cứ cách mạng của tỉnh Bà Rịa Long Khánh. Năm 1948 nhằm bảo tồn lực lượng và củng cố phong trào cách mạng, đảng bộ Long Phước phát động phong trào đào hầm bí mật trong toàn xã. Tiền thân chọn là căn hầm nhà ông Năm Hồi với chiều dài 300 mét nhờ đó tháng 10 năm 1949 lực lượng vũ trang cách mạng đã chiến thắng cuộc càn quét của giặc Pháp giữ vững xam ấp và cơ sở cách mạng.

Năm 1963 địa đạo được khôi phục và phát triển ở ấp Nam Tây chiều dài 200 mét, có cấu trúc thêm giao thông hào, ụ chiến đấu kho lương thực, kho về khu, hầm cứu thương.Địa đạo đã trở thành thế trận vững chắc để lực lượng cách mạng bám trụ kiên cường đánh bại nhiều cuộc tấn công lấn chiếm của địch góp phần cùng quân dân cả nước giải phóng miền Nam.

Ngày 09 tháng 1 năm 1990 bộ văn hoá Thông tin - Thể thao-Du lịch đã ra quyết định số 34/HVQĐ công nhận di tích lịch sử địa đạo Long Phước. UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã cho trùng tu lại khu di tích địa đạo Long Phước và đón khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan.

Căn cứ núi Dinh:

nui_dinh.jpgNúi Dinh chạy hình vòng cung theo hướng Đông Nam - Tây Bắc. Đỉnh cao nhất là núi Ông Trịnh cao 504m, phần còn lại thoải dần về 2 phía. Đầu thế kỷ 20, ở đây là rong nguyên sinh với thảm thực vật nhiệt đới đa dạng, nhiều lại cây gỗ qúi hiếm.

Trong hai cuộc kháng chiến, Núi Dinh là căn cứ cách mạng, trải dài trên một diện tích có địa hình phức tạp, hiểm trở. Mỗi hốc đá, bờ suối đều tạo lên những kỳ tích anh hùng. Những địa danh như¬ Hang Dây Bí, Hang Tổ, Hang, Mai Chùa Diệu Linh, Hang Dơi đều làm nhiều thế hệ bồi hồi xúc động.

 

Suối nước nóng Bình Châu:

suoi_binh_chau.jpgKhu du lịch nước nóng Bình Châu nằm cách huyện Xuyên Mộc khoảng 30 km, theo quốc lộ 23. Nằm giữa rừng nguyên sinh rộng tới 7000 ha, một bầu nước sôi với hơn 70 điểm phín nước lộ thiên, vùng có nước nóng hoạt động rộng hơn 1 km vuông, gồm nhiều hồ lớn nhỏ tạo thành các dòng chảy có lưu lượng nhỏ. vùng hồ rộng nhất khoảng 100 m vuông với độ sâu hơn 1m. Đây là điểm nóng nhất, nhiệt độ tầng mặt nước khoảng 64 độ và đáy nước là 84 độ. Những nơi nông, nước chỉ nóng khoảng 40 độ, có thể ngâm chân, tay để chữa bệnh.

Khu du lịch này đã được đầu tư thành nơi phục vụ đông đảo du khách trong nước và nước ngoài. Du khách có thể tắm nước nóng trong bồn tại phòng riêng hay chọn ở hồ hoặc tự nhiên giữa thiên nhiên tại các dòng mương dẫn nước khoáng nóng.

Rừng nguyên sinh Bình Châu:

rung_binh_chau.jpgRừng Bình Châu - Phước Bửu là một quẩn thể cảnh quan đa dạng, có sức thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan.

Khu rừng cấm quốc gia Bình Châu - Phước Bửu nằm dọc theo ven biển, thuộc phía nam huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Khu rừng này trải dài trên đại phận 5 xã Bình Châu, Bưng Riềng, Bông Trang, Xuyên Mộc và Phước Bửu, với tổng diện tích hơn 11.000 ha. Địa hình rừng cấm tương đối bằng phẳng, những ngọn đồi thoải dần xen lẫn những vạt rừng tươi tốt và hệ thống hồ nước ngọt tự nhiên đã tạo lên cảnh quan tuyệt đẹp.

Với hệ thực vật phong phú, đa dạng, có tới 113 họ, 408 chi, 661 loài trong đó có rất nhiều loại cây qúi hiếm. Dưới tán rừng là vô số loại cây cảnh sinh sống như thiên tuế, vạn tuế, mai, lan ... Động vật có 178 loài thuộc 70 họ, 29 bộ, 36 loài thú như voi, báo, khỉ, voọc, heo, hoẵng ... 96 loài chim, 33 loài bò sát ...

Giữa rừng già hoang sơ, du khách sẽ gặp dòng sông Hòa êm đềm chảy về biển. Rừng Bình Châu - Phước Bửu là một trong những khu rừng nổi tiếng ở miền Nam Việt Nam. Ngày 9 tháng 8 năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng đã ký quyết định số 194, đưa rừng Bình Châu - Phước Bửu vào danh mục rừng cấm quốc gia.

Cầu Tàu:

cau_tau.jpgCầu Tàu được khởi công xây dựng vào văn 1873,với chiều dài là 107m, từ mép lộ trước cổng dinh Chúa Đảo lao thẳng ra vịnh Côn Sơn. Dấu ấn sâu lắng nhất đọng lại di tích lịch sử này. Trong hơn một thế kỷ qua chọn là những phiến đá ngổn ngang, sắp lớp. Những tảng đá đó đã đè nát bao nhiêu thân tù khi họ đưa nó từ núi Chùa về đây. Cái thời đau thương ấy như vẫn còn âm vang trong từng phiến đá và có câu trường hận của tù nhân : "Côn Lôn ơi, viên đá mạng người....".

Cầu Tàu đã từng rợp bóng cờ đỏ sao vàng những ngày Cách Mạng Tháng Tám (1945) thành công ở Côn Đảo. Trên 2000 tù nhân đã trở về tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp. Một số người đã trở thành những đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Ngày 4/5/1975 trên chuyến tàu đầu tiên ra giải phóng Côn Đảo 500 bức ảnh Bác Hồ được in lụa đã được chuyển tới Cầu Tàu để về đất liền, chấm dứt hơn một thế kỷ "địa ngục trần gian " nơi Côn Đảo.

Côn Đảo:

con_dao.jpgLà quần đảo Côn Lôn bao gồm 14 đảo lớn nhỏ nằm ở phía Nam Tây Nam biển Đông cánh Vũng Tàu 97 hải lưu ,cánh mũi Cà Mau 100 hải lưu. Là quần đảo có diện tích rộng 76.71km, dân cư thưa thớt. Hòn đảo lớn nhất gọi là Côn Đảo (Còn có tên là Phú Hải ) rộng 51.52km vuông.

Côn Đảo là trung tâm Kinh tế - Chính trị - Xã hội của quần đảo. Côn Đảo có 200km bờ biển, có rừng rậm quốc gia rộng 6.043ha là rừng nguyên sinh. Có thảm thực vật phong phú, có rất nhiều loại động vật qúi hiếm vùng nhiệt đới.

Côn Đảo có ngư trường lớn, phạm vi đánh bắt hải sản rộng rất thuận tiện cho các hoạt động dịch vụ phục vụ khai thác xây dựng cơ sở chế biến hải sản xuất khẩu. Có nhiều thắng cảnh và bãi tắm nổi tiếng.

Nghĩa trang Hàng Dương:

nt_hang_duong.jpgĐược quy hoạch rộng 190.000m2. Bao gồm khu A, khu B và khu C.Theo ước định có khoảng 20.000 tù nhân đã chết ở Côn Đảo, tuy nhiên không phải tất cả đã nằm ở Hàng Dương. Nghĩa địa tù này được lập đầu tiên ở Chuồng Bò sau đó chuyển lên Hàng Keo. Tính đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975) nghĩa trang lịch sử này đã tròn 35 tuổi.

Khu A nghĩa trang, nơi có phần mộ của cụ Nguyễn An Ninh và đồng chí Lê Hồng Phong, là nơi chôn những ngôi mộ đầu tiên. Năm 1944 khu A đã chôn chật mộ nhà tù mở rộng nghĩa trang về phía Nam tức khu B hiện nay.

Hài cốt của lớp tù nhân trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) được chôn kế tiếp từ đồi cát chạy dài xuống phía Nam nơi có ngôi mộ của người nữ anh hùng Võ Thị Sáu. Hài cốt của lớp tù nhân chống Mỹ được chôn tiếp vào phần còn lại của khu B và chuyển sang khu C.

Sân hành lễ nằm ở trung tâm nghĩa trang với một tượng đài mang một hình tượng Trao áo. Tượng đài cao 9m, nặng 25 tấn được khởi dựng ngày 16/07/1980. Dưới chân bức tượng có ghi dòng chữ "Vĩnh biệt các đồng chí". Nghĩa trang Hàng Dương được bảo tồn như một di tích lịch sử đặc biệt. Nghĩa trang Hàng Dương với hàng ngàn nấm mộ có tên và không có tên là bằng chứng hùng hồn về tội ác của đế quốc, thực dân đối với dân tộc ta.

Rừng nguyên sinh Côn Đảo:

rung_con_dao.jpgRừng nguyên sinh Côn Đảo là khu bảo tồn quốc gia rộng 6.043ha trên 14 hòn đảo nằm trong quần đảo Côn Lôn ,được bao bọc đường hành lang biển rộng 4 km .Quần đảo bao gồm 3 hệ sinh thái : Rừng nhiệt đới quanh năm xanh tốt, Rừng đồi cát khô, Rừng đước và rừng sau đước.

Những khảo sát sơ bộ cho thấy có khoảng 361 loài cây thuộc về 22 lớp, 71 họ, 191 giống đại diện cho vùng khu hậu Việt Nam.Trong đó có 26 loại cây lấy gỗ (Với nhiều loại cây gỗ qúi như : lát, quăng, sao, giáng hương...), và có 76 loại cây thuốc dân tộc.

Khu rừng có 100 loài chim và thú lưỡng cư thuộc 50 họ và 22 lớp : 18 loại động vật có vú; 62 loài chim; 19 loài bò sát; 6 loài ếch và 150 loại động vật thân mềm. Đông vật qúi có Sac đen, Sac da đỏ, Sac bay, khỉ vàng, đại bàng biển, trăn...

Hòn Trứng trong quần đảo là nơi trú ngụ của các loài chim biển với mật độ dày đặc có thể so sánh với sân chim ở miền Tây Nam Bộ.

Trong biển có những bãi Hải Sâm lớn, nơi cư ngụ của các Heo. Những bãi biển của hòn Bảy Cạnh, hòn Tre Lớn là nơi sinh đẻ của Voọch và đồi mồi. Nhiều hang, vách đá của hòn Cau, hòn Tre Nhỏ, vịnh Đầm Tre ... là nơi trú ngụ của chim yến.Khu rừng bảo tồn quốc gia Côn Đảo là bức tranh thu nhỏ, thiên nhiên rừng Việt Nam. Tại đây người ta đã bắt đầu phát hiện được những di tích lịch sử văn hoá cổ. Tương lai Côn Đảo đáng được nghiên cứu hoạch định để Côn Đảo có thể trở thành một trong những trung tâm du lịch thiên nhiên hấp dẫn nhất vùng Đông Nam á .

Thắng cảnh Bàu Sen:

bau_sen.jpgKhu nghỉ mát Bàu Sen nằm cách thị xã Bà Rịa 30km về phía Bắc nằm trong một trong những khu rừng lịch sử phía Nam.

Rừng Bàu Sen mọc trên vùng sình lầy quanh năm ngập nước, với diện tích 120ha (dài 3000m rộng 400m) độ sâu trung bình 3,5m, được cung cấp nước bởi con suối Tầm Bó bắt nguồn từ Cẩm Mỹ rừng Bàu Sen có hệ sinh thái hết sức đa dạng với nhiều loài động thực vật quý hiếm như: bời lời, dầu nước, sao mây, các cây họ tre; các loài thuỷ đặc sản: cá, cua, ốc, lươn...

Ngoài giá trị du lịch sinh thái, nơi đây còn được coi là di tích lịch sử với khu căn cứ Bàu Sen nổi tiếng.

Thắng cảnh Suối Tiên:

suoi_tien.jpgĐã từ lâu, du khách trong và ngoài nước đều gọi khu du lịch Suối Đá, Suối Tiên là Đà Lạt thứ hai của Việt Nam bởi phong cảnh thiên nhiên đẹp tuyệt vời mà tạo hoá đã ban tặng cho nơi này.Suối Đá, Suối Tiên đều bắt nguồn từ đỉnh núi Dinh cao 491m do những dòng suối nhỏ chảy men theo các vách núi, sườn đồi hợp thành chảy êm đềm uốn lượn quanh những rừng cây tạo nên những cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ, kỳ thú.

Núi Dinh với rất nhiều vách núi đẹp tự nhiên khi nhìn từ xa có hình chú voi khổng lồ nằm chầu về phía biển. Những chùm hoa cương trần trụi, bám đầy địa y xen lẫn rêu phong, có lẽ hàng ngàn năm rồi đá nằm ngủ trong rừng sâu nay bỗng thức giấc, có rất nhiều những tảng đá cao với hình khối sống động: Đây là hai tảng đá đứng gần nhau như hai mẹ con lâu ngày gặp nhau đang ngồi trò truyện, còn kia là cảnh một hòn đá giống chú bé con đang hờn dỗi mẹ, kế đó là cảnh một cụ già đang ngồi trầm tư với con mắt đang thả vào cõi mông lung, xa thẳm...

Dọc theo suối còn có những thạch bàn phẳng lỳ nằm nghiêng nghiêng khá rộng, bạn có thể ngồi hay nằm nghỉ khi dừng chân, ở đây bạn có thể nghe tiếng suối ào ạt tuôn chảy từ đỉnh thác của suối Tiên đổ xuống tạo thành những giếng trời khá sâu nước trong xanh có thể nhìn thấy những hòn sỏi trắng muốt dưới đáy. Nước chảy xối xả, tung toé, hơi nước hoà vào không gian những hạt bụi li ti tạo nên cảm giác thật dễ chịu. Từ tháng 7 - 8, suối cuộn mình tung bọt trắng xoá để tới tháng 10 khi bắt đầu vào mùa khô dòng suối hiền hoà trở lại. Du lịch suối Đá, bạn nên chuẩn bị giày thể thao và một chiếc gậy nhỏ để đi dọc các bờ và vượt thác, qua đoạn đường gập ghềnh và dốc trơn, bạn có thể dừng chân nghỉ hoặc tắm ở những giêng nước nhân tạo trong mát.Từ Suối Đá đến Suối Tiên phải vượt qua 600m đường rừng quanh co. Tương truyền ở nơi đây cây cối rậm rạp, núi rừng hoang vắng và những đêm trăng sáng các nàng tiên trên trời thường xuống hạ giới để du ngoạn. Qua dòng suối này các nàng tiên rủ nhau tắm mát rồi mới về trời. Hiện nay ở phía mỏm đá của núi Dinh có dấu chân thật xinh xắn in thành ngấn trên đá gọi là dấu chân tiên. Có lẽ người xưa qúa yêu cảnh sắc nơi đây nên đã đặt cho nó một cái tên thật huyến ảo: Suối Tiên. Khu thắng cảnh Suối Tiên xứng đáng là địa điểm lý tưởng cho những cuộc tham quan, dã ngoại, tìm về thiên nhiên khiến du khách quên đi những giờ phút làm việc căng thẳng.

Tổ đình Thiên Thai & thắng cảnh Dinh Cố:

dinh_co.jpgTổ đình Thiên Thai - nằm ở phía Bắc chân núi Dinh Cố (ấp 3 xã Tam An, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ) - được khởi công xây dựng năm 1925 bởi Hoà Thượng Thích Huệ Đăng. Nhưng mảnh đất này trước đó đã là nơi trì niệm của sư tổ Huệ Đăng. Phía sau Tổ Đình có Thạch Động. Thạch Động được tạo dựng công phu trong hang đá, là nơi Hoà Thượng Huệ Đăng sông tu hành trong điều kiện lúc đầu chưa dựng được ngôi chùa như hiện nay.

Tổ đình Thiên Thai toạ lạc trên diện tích tương đối rộng (6ha), được chia làm 4 khu vực chủ yếu đó là : điện chính (Thiên Thai), Thạch Động, Thiên Khánh và Thiên Bửu Tháp (được xây dựng năm 1936). hai câu đối bằng chữ Hán trước cửa Thạch Động: "Tá thạch vi tường thục lão tăng cùng đáo đế, Vĩ phong tác chiến thuỳ chi đại đạo lạc vô cương"(tạm dịch: Đá mượn làm tường, ai có biết lão tăng nghèo đến thế; Gió dùng thay quạt, người đâu hay đạo lạc vô cương.)

Cụ tổ Thiên Thai đạo hiệu Huệ Đăng (ngọn đèn Huệ soi sáng mãi tương lai ), tên thật là Lê Quang Hoá, sanh năm 1873 tại xã An Đông, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định. Lê Quang Hoá tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp từ năm 17 tuổi. Năm 1895 phong trào chống Pháp của Phan Đình Phùng thất bại. Nhiều cơ sở, tổ chức ở Bình Định bị phá vỡ, anh em chiến sỹ bị bắt, bị tù đày. Ông tìm đường vào Nam và đi tu. Nhưng hoài niệm cứu nước vẫn canh cánh trong lòng bậc chân tu, thể hiện trong cuộc sống, trong giảng dạy đạo pháp Phật giáo cho đệ tử, đã đào tạo được nhiều tăng ni yêu nước. Những người trụ trì Thiên Thai đều thực hiện theo tinh thần đạo pháp gắn với dân tộc. Sư tổ Huệ Đăng vốn quen biết cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồi đầu mới dựng chùa, cụ phó bảng có ghé thăm và ở lại Thiên Thai một đêm để đàm đạo với Huệ Đăng.Rời tổ đình Thiên Thai, du khách rẽ trái theo con đường tam cấp uốn lượn quanh núi Dinh Cố lên cao 82m để chiêm ngưỡng toàn cảnh đồng bằng trù phú Long Đất,Tân Thành vàn xa xa là Xuyên Mộc mờ ảo...

Trên đỉnh núi Dinh Cố có một ngôi miếu được xây dựng công phu trên những khối đá lớn, tương truyền đó là miếu thờ một hiền nữ, còn gọi là Dinh Cố. Không biết trước khi có danh sơn trên, núi Dinh Cố còn có tên gọi nào khác ?

Một số người say mê tìm hiểu lịch sử địa phương cho rằng núi Dinh Cố xưa được gọi là núi Bà Rịa. Nếu quả thật như vậy thì giữa ngôi miếu thờ một hiền nữ không tên không tuổi được sử tịch ghi chép và lưu truyền kia với Bà Rịa, một nhân vật lịch sử có thật có mối quan hệ gì chăng?Núi Dinh Cố không cao lớn, hình dáng như một chiếc nón khổng lồ úp trên cánh đồng Tam An. Lên Dinh Cố, du khách không quên vào miếu Hiền Nữ thắp hương. Theo nhân dân Tam An, từ khi Bà Cố qua đời ngọn núi này trở nên linh thiêng. Người ta truyền rằng đến đây dâng hương, cầu mong cuộc sống gặp nhiều may mắn, hạnh phúc sẽ được toại nguyện. Những huyền thoại thần bí về Bà Cố có thể đã được nhân dân thêu dệt thêm rất nhiều, âu đó cũng là mơ ước về con người tư đức, công hạnh để nhân dân tôn kính ngưỡng mộ.

(st)

 

Lần cập nhật cuối ( Thứ hai, 04 Tháng 4 2011 17:40 )
 
Email In PDF.

Hướng dẫn cách làm mắm Tôm Chua

VẬT LIỆU

- 1 kg tôm đất tươi sống, chọn con lớn.

- 1 chén nhỏ xôi trắng (cỡ chén ăn soup thông thường).

- 150gr riềng non; 50gr tỏi.

- 50 gr ớt trái lớn, chín đỏ.

- Ệ lít rượu trắng ngon 40 độ.

- Ít lá ổi già rửa sạch, vẩy ráo.

- 2 hũ thủy tinh, thể tích 700 ù 800cc.

- Gia vị, vài nẹp tre mỏng hoặc đĩa sứ tròn vừa đủ cho lọt qua miệng của cái hũ dùng làm tôm.


THỰC HÀNH

- Riềng gọt vỏ, rửa sạch, cắt lát thật mỏng rồi xắt lại dạng sợi chỉ, càng nhỏ càng tốt. Ngâm riềng đã cắt chỉ vào trong thau nước nhỏ pha loãng chút muối cho riềng trắng đẹp. Trước khi làm vớt ra vẩy ráo.

- Tỏi lột vỏ cắt lát thật mỏng.

- Ớt chẻ dọc, moi bỏ hột, cắt ớt thành dạng sợi.

- Tôm phải còn búng nhảy khi làm, để nguyên con tôm. Rửa tôm với nước muối pha loãng 1 - 2 lần cho thật sạch, vẩy ráo nước muối. (Nếu dùng tôm đông lạnh còn vỏ thì chỉ cần rã đông và vẩy cho thật ráo nước). Chuẩn bị một thau nhỏ, nắp đậy, cho tôm vào thau, đổ hết rượu vào (VN có xuất khẩu rượu trắng với thương hiệu rượu Ðế VN hoặc Gò Ðen, Làng Vân... nếu không tìm được rượu đế, các bạn có thể dùng những loại rượu trắng như Vodka, Gin...) nhanh tay đậy nắp kẻo tôm búng ra, xốc đều tôm trong thau, để qua 25 - 30 phút, tôm ngấm rượu sẽ chết và ửng đỏ đầu râu, coi tôm cho kỹ để tất cả tôm đều thấm rượu.

- Vo nếp nấu xôi trong thời gian ngâm tôm; bới ra một chén xôi để cho nguội bớt.

- Sau khi ngâm tôm, xớt một phần rượu qua một thau nhỏ khác. Tôm vẫn để vỏ, dùng kéo cắt bớt đầu râu ở vị trí qua khỏi mắt chừng 5 ly, tùy ý muốn cắt chân hay không, giữ đuôi lại cho đẹp mắt. Làm đến đâu bỏ tôm vào ngâm trong thau đã xớt rượu, sau khi làm xong, cho tôm vào rổ rá, vẩy cho ráo rượu. Không rửa lại nước lạnh.

- Cho tôm vào một thau khác, trộn đều với xôi, tỏi, giềng, ớt + 2 muỗng súp muối + 2 muỗng súp đường. Trộn thật đều cho xôi tơi ra, bám đều vào tôm.

- Cho tôm vào hủ, mặt tôm cách miệng hũ ít nhất 10cm, dùng lá ổi đậy kín mặt tôm rồi lấy nan tre mỏng gài ngang mặt hoặc đĩa sứ nhỏ cho lọt được vào miệng hủ, sao cho bảo đảm khi trong lọ dậy nước, tôm sẽ không nổi lên khỏi mặt lá ổi. Công đoạn này phải làm kỷ kẻo tôm sẽ hư. Ðậy kín.

- Ðể qua 1 - 2 hôm, tùy thời tiết, trong hũ tôm sẽ dậy nước từ từ và tỏa mùi thơm là đã làm đúng những công đoạn; nếu không trộn màu thực phẩm sẽ thấy tôm ửng màu đỏ tự nhiên. Nếu trời nắng nóng, sẽ ăn được vào ngày thứ năm sau khi cho tôm vào hủ, còn thường là bảy ngày. Nếu muốn ăn sớm hơn, phơi hũ tôm ra nắng vài giờ trong ngày. Phải luôn thăm chừng nếu muốn ăn chua ít nhiều tùy khẩu vị. Mỗi lần lấy tôm ra phải nhận tôm còn trong hũ trầm dưới mặt nước và gài đậy kỹ. Tùy khẩu vị, sau ngày thứ năm, giữ độ chua vừa ý bằng cách cho vào tủ lạnh.

- Tôm càng để lâu, càng chua. Nếu để tôm quá chua, khi gắp ra, xốc đều với ít đường.

- Lá ổi có tác dụng làm lên men thơm cho tôm + rượu và nếp sẽ làm cho tôm ở trong một dung môi có chất chua của rượu nếp. Nếu không có lá ổi món tôm chua sẽ ít thơm hơn.

- Món ăn tuy có ớt, riềng nhưng với phân lượng vừa đủ cùng men rượu sẽ phân hủy vị cay, làm cho món ăn chỉ còn mùi thơm ớt, riềng. Tùy khẩu vị mỗi người nếu thích ăn cay hơn, giả nhuyễn ít ớt, tỏi rồi trộn riêng với ít tôm chua lấy trong hũ ra.


CHẾ BIẾN

Tôm chua thường được ăn kèm thịt heo ba chỉ luộc chín, cắt miếng nhỏ mỏng, rau thơm các loại, chuối sống, khế xanh cắt lát mỏng... Tùy thích ăn kèm cơm hay bún. Hoặc làm cuốn tôm chua: Tùy ý chọn bánh ướt hay bánh tráng mềm. Cuốn thành cuốn có đường kính chừng 3 cm với rau muống cọng nhỏ (không lá), rau thơm, khoai lang luộc lột vỏ cắt miếng nhỏ dài; cắt khúc ngắn chừng 3cm, sắp đứng vào đĩa, trên mỗi khúc để một lát thịt ba chỉ mỏng và một con tôm chua. Tùy thích pha lại nước trong hũ tôm chua với ít đường, tỏi ớt... để làm nước chấm.

Theo Gocbep.net

 
Email In PDF.

Địa điểm du lịch Đà Lạt

Chợ Đà Lạt

 

 

Năm 1929, một ngôi chợ bằng cây, lợp tôn gọi là “Chợ cây” được dựng lên tại vị trí Rạp chiếu bóng 3 tháng 4 ở Khu Hòa Bình hiện nay.

Năm 1937, sau một trận hỏa hoạn lớn, Công ty SIDEC xây dựng một ngôi chợ mới bằng gạch để thay thế “Chợ cây”.

Năm 1958, chợ Đà Lạt hiện nay được khởi công xây dựng trên một vùng đất sình lầy trồng xà-lách-son (cresson), do kiến trúc sư Nguyễn Duy Đức thiết kế, nhà thầu Nguyễn Linh Chiểu thi công, hoàn thành vào năm 1960. Về sau, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ tham gia chỉnh trang chợ Đà Lạt.

Ngày 3.4.1993, khởi công xây dựng khối B chợ Đà Lạt do kiến trúc sư Lê Văn Rọt và Trần Hùng thiết kế. Công trình do Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Lạt đầu tư.

Chợ Đà Lạt có 3 tầng, là một trong những chợ lầu đầu tiên ở Việt Nam.

Chùa Linh Phong

Chùa Sư nữ Linh Phong cách thành phố Đà Lạt khoảng 4km về hướng Đông Nam (Trại Hầm). Chùa được xây dựng trên một đỉnh núi nhỏ cao vút ẩn hiện giữa ngàn thông vi vu lộng gió.

Khởi đầu, năm 1944, chùa là một niệm Phật đường mái tôle vách ván đơn sơ, cheo leo trên chóp núi, do Hòa thượng Thích Bích Nguyên chủ trì.

 

 

Năm 1948 đến 1962, Sư bà Thích Nữ Từ Hương trùng tu và xây dựng nên Linh Phong Ni Tự, một ngôi chùa trang nghiêm, tráng lệ như ngày nay... Cổng Tam quan được xây dựng bằng đá xanh, tạo nên nét uy nghi cho ngôi tịnh đường theo triết lý Tam quán "Không, Giả, Trung". Chùa (16x25m) chia làm 5 gian kiến trúc theo kiểu những đình làng ở miền Trung. Mái kép cong được trang trí bằng tứ linh (long, lân, qui, phụng) uốn lượn giữa gió núi mây ngàn.

Chánh điện thờ Đức Phật A Di Đà cao 1,8m. Ở hai bên, phần trước thờ tượng Quan Thế Âm Bồ Tát và Đức Đại Thế Chí Bồ Tát bằng đồng bóng loáng, phần sau thờ Tổ và Linh. Phía sau chùa, trên đồi có một ngôi tháp nhỏ cao 3 tầng, hình lục giác sẽ là nơi an nghỉ khi Sư bà viên tịch.

Đến viếng chùa Linh Phong, du khách sẽ gặp Sư bà Từ Hương, một Ni trưởng cao niên, tuổi ngoại thất tuần, dáng người tao nhã. Ta vẫn có thể hình dung được một người con gái nhan sắc năm xưa, tuổi vừa đôi mươi đã rời bỏ một gia đình thượng lưu giàu có để xuất gia đầu Phật, lãng quên việc đời, tu hành chánh quả.

Chùa Linh Sơn

Cách Hòa Bình hơn 700m về hướng Tây Bắc, chùa Linh Sơn được xây dựng trên một ngọn đồi rộng khoảng 4ha trồng trà, cà phê, bạch đàn, thông, tùng, trắc bách diệp, mai anh đào... Cảnh chùa trang nghiêm, cổ kính. Phía trước sân chùa là bãi cỏ xanh với những luống hoa, tảng đá lớn, cụm sơn giả giữa các hồ nước nhỏ.

 

 

Hai bên bậc cấp dẫn vào chánh điện là hai con rồng uốn khúc. Ở giữa điện Phật thờ tượng Phật Thích Ca bằng đồng nặng 1.250 kg đúc năm 1952. Bên phải tiền đường là tháp hình bát giác có vẻ đẹp kiến trúc phương Đông.Chùa được xây dựng từ năm 1936, hoàn thành năm 1940.

Dinh I

Dinh I là một hệ thống công trình rất lớn ở đường Trần Quang Diệu, thuộc phường 10, thành phố Đà Lạt, nằm cách trung tâm Đà Lạt chừng 4km về hướng Đông Nam, trên một ngọn đồi với cảnh quan đẹp và thơ mộng, độ cao 1550m có rừng thông bao quanh. Tổng diện tích khoảng 60ha, độ dốc trung bình khoảng 500. Nguyên đây là biệt thự của nhà triệu phú - một viên chức người Pháp - Robert Clément  Bourgery. Ông là chủ nhà máy điện ở Thượng Hải và đã cho xây dựng biệt thự này vào trước những năm 1940. Công trình được xây dựng ở giữa rừng thông, trên một chỏm đồi nhìn xuống thung lũng rừng săn bắn xưa kia của Bảo Đại.

 

Sau khi Bảo Đại được người Pháp  đưa trở lại nắm quyền (1949), thấy nơi đây  khá đẹp và yên tĩnh nên chính phủ Việt Nam do Bảo Đại làm Quốc trưởng đã mua lại từ tháng 8-1949 và cho sửa sang toàn bộ dinh cơ này. Vua Bảo Đại đã dùng dinh cơ này làm tổng hành dinh và nơi làm việc cho các quan chức trong “lãnh thổ” của mình. Đến năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm sử dụng làm dinh dành riêng  cho tổng thống. Dinh được sửa sang lại, làm thêm đường hầm, hai bên có phòng làm việc của các phụ tá, sĩ quan,… Đường hầm này là lối thoát hiểm, kín đáo  thông ra một sân bay trực thăng nhỏ, đề phòng các cuộc pháo kích và đảo chính. Sau khi Ngô Đình Diệm bị trừ khử, dinh thự này vẫn được dùng làm nơi nghỉ mát của các nguyên thủ quốc gia kế tiếp của chế độ cũ cho đến năm 1975. Sau năm 1975, được dùng làm nhà khách của Trung ương và sau đó do Công ty DRI quản lý và sử dụng.

 

Dinh nằm trong một rừng thông xanh thẫm. Lối vào dinh là một  con đường rải nhựa với hai hàng cây tràm thân trắng cao vút. Cuối con đường là một đảo hoa hình quả trứng (oval) làm bình phong trang trí để xoay chuyển hướng đến sảnh đón chính của toà nhà. Chính yếu tố này đã tôn thêm vẻ cổ kính cho công trình. Quanh đó còn có một số hạng mục công trình kiến trúc khác như nhà dành cho ngự lâm quân, nhân viên phục vụ và một hệ thống sân sườn, bể nước vòi phun, lối đi dạo, vườn ngự uyển dẫn vào rừng săn bắn có chỗ nghỉ chân với hồ tắm thiên nhiên tạo thành một quần thể kiến trúc đẹp, sang trọng và hoàn chỉnh.

Tòa nhà chính gồm một tầng hầm, một tầng trệt, một tầng lầu. Mặt bằng được bố cục đối xứng với lối vào chính giữa, hệ thống cầu thang và hành lang  mở ra hai bên. Tầng trệt có sảnh lớn, phòng tiếp khách, phòng họp lớn,... Lầu 1 gồm các phòng ngủ bao xung quanh một hành lang giữa.

Dinh I được xây dựng kiên cố, tường xây gạch đá, mái lợp ngói. Trên mái có nhiều cửa sổ, mái bẻ góc ở đuôi, có một số ống khói. Nét cổ điển không chỉ thể hiện ở  sự đối xứng nghiêm ngặt trong mặt bằng mà còn nằm trên hệ cửa sổ với những vòm cung tròn. Phần nửa dưới của tầng trệt xây bằng đá chẻ, phần còn lại xây gạch. Toàn bộ hệ thống cửa, cầu thang, sàn lầu, vật dụng đều bằng gỗ. Cửa chính cũng  có dạng vòm cung nguyên nhưng lại được kết hợp với mái đón bằng ngang, đó là một điểm cách tân trong kiến trúc dinh I. Mặt đứng công trình được trang trí với nhiều tiểu tiết càng làm tăng thêm dáng vẻ cổ kính, uy nghi mà tao nhã. Dinh I là một công trình kiến trúc độc đáo, thể hiện rõ những ảnh hưởng của trào lưu kiến trúc tân cổ điển của châu Âu.

Dinh II

Dinh II là dinh thự mùa hè của Toàn quyền Decoux, hay còn gọi là dinh Toàn quyền, là nơi ở và làm việc của Decoux vào mùa hè hàng năm, từ tháng 5 đến tháng 10.

Tọa lạc trên một ngọn đồi thông rợp bóng ở độ cao 1.540m trên đường Trần Hưng Đạo, cách trung tâm Đà Lạt 2km về hướng Đông-Nam. Dinh 2 được xây dựng từ năm 1933 là một tòa lâu đài tráng lệ gồm 25 phòng được bài trí cực kỳ sang trọng. Đứng ở nơi đây, du khách có thể nhìn thấy hồ Xuân Hương cách xa chừng 1km thấp thoáng qua những tán lá thông.


Từ ngày chuyển Phủ Toàn Quyền về đây làm việc, Decoux đã cho xây dựng những đường hầm bí mật rất kiên cố nhằm bảo đảm an toàn tuyệt đối choông và gia đình. Đường hầm này được nối vào hầm chứa rượu với bề ngang chừng 1.5m và bề cao hơn 1m với nhiều ngóc ngách được đổ bê tông chắc chắn.

Dưới thời Ngô Đình Diệm, Dinh 2 trở thành nơi nghỉ mát của gia đình Ngô Đình Nhu. Năm 1964 khi tướng Nguyễn Khánh lên nắm quyền trongbối cảnh chính trị đầy bất trắc, ông đã chọn Dinh II  làm Tổng hành dinh trong mùa nghỉ mát và đã cho tu bổ xây dựng thêm các đường hầm bí mật trên tận sườn đồi theo hướng Đông-Nam và Tây-Bắc phòng khi có đảo chánh.

Dinh III

Dinh III là tên gọi để chỉ biệt thự nghỉ hè của vua Bảo Đại, vị hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn đồng thời cũng là vị hoàng đế cuối cùng của các triều đại phong kiến Việt Nam. Sau này khi người Pháp đưa Bảo Đại trở lại nắm quyền từ năm 1948 rồi thành lập “Hoàng triều Cương Thổ” vào năm 1950, nơi đây còn được gọi là Biệt điện Quốc trưởng.

 

Được xây dựng từ năm 1933 gồm 25 phòng, Dinh 3 là một tòa dinh thự vô cùng trang nhã, gắn mình trong khung cảnh thơ mộng của một đồi thông ở độ cao 1539m trên đường Triệu Việt Vương, cách trung tâm Đà Lạt chừng 2km về hướng Tây-Nam. Do một may mắn của lịch sử, Biệt điện Quốc trưởng còn được bảo tồn gần như nguyên trạng khiến cho du khách đến đây có thể cảm nhận một bầu không khí vừa trang nghiêm lại vừa gần gũi, ấm cúng của một gia đình hoàng tộc căn phòng làm việc của vua Bảo Đại với những ấn tín quân sự, ngọc tỷ của Hoàng đế, quốc thư, quốc kỳ các nước có quan hệ ngoại giao, tượng bản thân của vua Bảo Đại và vua cha Khải Định, phòng của hoàng hậu Nam Phương, hoàng tử Bửu Long. Phương Mai công chúa, hình ảnh gia đình và những vật dụng thường ngày… tất cả đều như mới hôm qua một chút gì đó se sắt chạnh lòng gợi nhớ một thuở vàng son nay đã không còn !

Hồ Xuân Hương

Là hồ đẹp nhất nằm ở trung tâm thành phố Ðà Lạt. Ðây là hồ lớn ở Ðà Lạt, chu vi 5.000m rộng khoảng 8 ha. Hồ Xuân Hương có hình mảnh trăng lưỡi liềm, là nơi thơ mộng, cuốn hút khách nhàn du, cũng là nơi hò hẹn của những đôi bạn tâm tình. Mặt hồ phẳng lặng như tấm kính pha lê, soi bóng những hàng thông reo hát suốt ngày đêm. Những con đường quanh hồ rợp bóng cây tùng, tạo thêm vẻ thơ mộng cho hồ.

 

 

 

Khi xưa hồ chỉ là con suối chảy giữa thung lũng, từ đó mà phát sinh tên gọi Đà Lạt (dòng suối của người Lạch). Đập đá ngăn suối tạo hồ mang tên Cầu Ông Đạo (Quản Đạo Phạm Khắc Hòe). Còn tên Xuân Hương là do ông Nguyễn Vỹ, Chủ tịch Hội đồng thị xã Đà Lạt vào năm 1953 đổi từ tên Grand Lac do người Pháp đặt trước kia. Ven hồ là bờ cỏ xanh mướt điểm những cây thông, tùng, anh đào, liễu rủ...xinh đẹp tạo thành một khung cảnh thơ mộng cho những cuộc hẹn hò.

Chiều tàn hay đêm đến, du khách có thể tản bộ hay lọc cọc xe ngựa quanh hồ để lâng lâng cùng chút se se lạnh cao nguyên hoặc ngồi nhâm nhi ly rượu, tách cà phê ở các nhà hàng Thủy Tạ, thanh Thủy ven hồ và thả hồn lăn tăn cùng mặt nước Xuân Hương. Ngoài ra du khách còn có thể đạp pedalo, đi xuồng máy hay chèo thuyền cao su trên hồ.

Hồ Tuyền Lâm

Từ một thung lũng hoang vu ở độ cao hơn 1.000m so với mặt biển bị bao bọc bởi bốn bề rừng núi và dòng suối tía huyền thoại bắt nguồn từ những ngọn núi cao ngất và đại ngàn hùng vĩ ở nam Tây Nguyên; cuối những năm 80, những người thợ xây dựng Bộ Thủy lợi đã tạo nên hồ Tuyền Lâm, với diện tích 365 ha, chỗ sâu nhất 36m, cung cấp nước tưới cho hơn 1.400 ha hoa màu, lúa và cây công nghiệp ở các xã tây bắc huyện Ðức Trọng.

Ðiều kỳ thú ở hồ Tuyền Lâm là dù mùa khô, đằng đẵng suốt sáu tháng trời không một hạt mưa, hồ vẫn đầy ắp nước. Mặt hồ quanh năm xanh biếc, kể cả những ngày mưa, nhận nước tuôn như thác từ các dòng suối và khe núi. Mặt hồ ngày đêm lăn tăn gợn sóng lung linh, soi bóng những hàng cây xanh ngắt ven hồ, hiếm khi có sóng lớn. Quanh hồ, những rừng thông ba lá tự nhiên và mới trồng phủ kín những ngọn núi, quả đồi, trải ngút ngàn tầm mắt. Tất cả cùng hòa quyện, vẽ nên bức tranh thiên nhiên yên tĩnh, thanh bình và thơ mộng lạ kỳ.

 

 

Ðến giữa những năm 90, hồ Tuyền Lâm rộng gần mười lần hồ Xuân Hương, lọt giữa rừng thông mênh mông và chỉ cách trung tâm Ðà Lạt 6km trở thành tâm điểm chú ý của du khách. Cũng có người dành hẳn một khoảng thời gian du ngoạn trên mặt hồ để tận hưởng không khí trong lành, mát mẻ và sự tĩnh lặng quý báu. Ðiều này khơi dậy tiềm năng mới của hồ Tuyền Lâm, đó là du lịch sinh thái. Sơ khai là những cá nhân tự đóng tàu cho khách thuê và chở khách tham quan mặt hồ, rừng thông và thác Bảo Ðại.

Không lâu sau, cuối hồ xuất hiện các khu dã ngoại Nam Qua và Ðá Tiên của Công ty trách nhiệm hữu hạn du lịch Phương Nam, mở đầu cho việc khai thác du lịch sinh thái và văn hóa một cách có tổ chức. Du lịch trên mặt hồ ngày càng mở ra rộng hơn; hướng tới nét đặc sắc của nền văn hóa các dân tộc thiểu số nam Tây Nguyên. Khách có thể thưởng thức thịt nướng, cơm lam, rượu cần, đốt lửa trại, tham gia lễ hội cồng chiêng, ngắm nhìn những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ, thư giãn trên những ngôi nhà sàn, nhà dài lộng gió, bắn cung tên và thám hiểm rừng sâu. Khách đến Tuyền Lâm đông dần và hình ảnh từng đoàn du khách dã ngoại trên hồ và các khu du lịch kề liền đã trở nên phổ biến. Năm 1998, Khu du lịch hồ Tuyền Lâm chính thức thành lập và cũng thời gian này, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận hồ Tuyền Lâm là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Vào xuân, hồ Tuyền Lâm, lấp lánh mầu xanh ngọc bích, khắc họa thêm nét thơ mộng, lãng mạn của Ðà Lạt vốn đã xinh đẹp. Ðây là danh thắng của Tây Nguyên nằm trong 20 khu du lịch trọng điểm ở Việt Nam. 

Thiền Viện Trúc Lâm

Nằm trong khu vực khu du lịch Hồ Tuyền Lâm, du khách đến Thiền Viện Trúc Lâm sẽ được chiêm ngưỡng một kiến trúc Tôn giáo được tọa lạc trên một đỉnh đồi.


 


Hồ Tuyền Lâm nhìn từ Trúc Lâm Thiền Viện.

Từ Thiền Viện Trúc Lâm, có thể nhìn thấy toàn cảnh hồ Tuyền Lâm. Tại đây, quý khách có thể cúng bái, vãng cảnh chùa hoặc nghiên cứu về các truyền thuyết tôn giáo từ thời Vua Trần Nhân Tông.

Có các điểm buôn bán quà lưu niệm, các đặc sản của Đà Lạt

Hồ Than Thở

Xưa chỉ là một hồ nhỏ, về sau người Pháp cho ngăn đập nước tạo thành hồ và đặt tên la Las des Suopirs. Sau đó, năm 1956 lại trở về với tên cũ Than Thở.

Hồ cách trung tâm thành phố 6km về phía đông, trên đường đi Thái Phiên hoặc Chi Lăng. Hồ nằm trên đồi ao giữa một vùng rừng thông tĩnh mịch. Trước đây hồ cung cấp nước cho thành phố. Cảnh vật quanh hồ thật im vắng, mặt hồ trầm ngâm phẳng lặng. Con đường đất nhỏ hẹp quanh hồ mất hút xa xa.


 

Gió lên, thông reo, lời ru khi êm ái, khi như nức nở khóc than. Quanh hồ có bao nhiêu truyền thuyết, tình sử…Hồ Than Thở là một trong những thắng cảnh nổi tiếng ở Đà Lạt do tên gọi khá hấp dẫn và cảnh quan quanh hồ. Sau một thời kỳ khu rừng thông quanh hồ bị đào bới để khai thác thiếc, hồ Than Thở được Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Dương chỉnh trang lại để thu hút du khách. Đến đây, du khách dạo chơi dưới rừng thông, cưỡi ngựa, đi trên chiếc cầu gỗ, chụp ảnh... 

Núi Lang Biang

Nói đến núi non Đà Lạt, nhiều nhà nghiên cứu địa lý, lịch sử, dân tộc học và cả khách du lịch đều nghĩ đến hai ngọn Lang Bian mà người Việt gọi là Núi Bà và Núi Khổng Lồ (Nhút) cùng rặng Biđúp, mặc dù ngày nay Lang Bian (Núi Bà) thuộc huyện Lạc Dương. Ông Khổng Lồ (Nhút) cũng thế, còn rặng Biđúp thực tế ở Lạc Dương giáp giới với Thuận Hải. Riêng với hai ngọn Lang Bian, các nhà nghiên cứu Pháp đã tìm hiểu khá nhiều, người Việt đặt tên Núi Bà là về sau này.

 

Đỉnh langbiang
Đỉnh LangBiang đầy sương .Ảnh : Vietbalo

Trong các truyền thuyết thần thoại, truyền thuyết của các dân tộc ít người Đà Lạt, ba rặng núi Lang Bian (Lâm Viên - Núi Bà), Khổng Lồ (Nhút) và Biđúp quan hệ rất mật thiết với nhau và thường là nguồn cảm hứng sáng tạo của các thi ca.

Đỉnh Lang Bian cao 2.167m và Biđúp cao 2.287m. Du khách ở Đà Lạt có thể thấy hai ngọn Lang Bian (Núi Bà) như bộ ngực tràn căng sức sống của một phụ nữ xinh đẹp khỏa thân nằm ngửa nhìn trời xanh mênh mang trong những ngày đông nắng lạnh. Nhìn từ Đà Lạt, du khách ngỡ rằng hai đỉnh Lang Bian liền nhau có thể đi từ đỉnh này sang đỉnh kia. Nhưng sự thật lại khác. Hai đỉnh núi được đi hai con đường khác nhau: Một theo hướng Lạc Dương, một theo ngả Thái Phiên. Hồi trước, nối liền hai đỉnh núi này có một con đường mòn quanh co qua một thung lũng, nhưng bây giờ cây rừng đã che mất.  

Suối Vàng

Suối Vàng nằm về phía Bắc Đà Lạt, cách trung tâm thành phố 12km. Khu vực trầm mặc và thơ mộng này với những đồi cỏ thênh thang là nơi bác sĩ Yersin đã đề nghị thành lập trung tâm thành phố nghỉ mát. Nhưng sau khi khảo sát địa thế vùng này không thấy thuận lợi; hơn nữa gần chân núi, độ ẩm cao, không thoáng khí như ở Đà Lạt nên vùng này vẫn còn khá hoang sơ như ngày nay.

 

 

Tuy vậy gần đây đã có bao dự kiến xây dựng Suối Vàng thành khu du lịch thứ 2 sau Đà Lạt. Vùng đất tuyệt đẹp này với những mặt hồ lãng đãng khói sương đã thu hút không biết bao nhiêu du khách. Dưới chân đồi ven hồ là một rừng thông non xanh thẳm nổi lên trên những cụm đồi tròn nhấp nhô chạy tít đến chân núi Lang Biang. Đó là những sân cù lý tưởng trong tương lai.

Suối Vàng có 1 thác nước và 2 hồ lớn. Hồ Ankroet ở dưới và hồ Dankia ở trên. Hai hồ này được tạo bởi 2 đập nước cùng tên chắn sông Đa Dung, phát nguyên từ núi Lang Biang. Sức chứa 2 hồ khoảng 21 triệu khối nước, được dùng để chạy máy phát điện tại nhà máy thủy điện Ankroet. Công trình này được xây dựng hai giai đoạn 1945 và 1953, công suất thiết kế 3.100 kW/h, nhưng do máy móc cũ, gần đây chỉ đạt 2.400 kW/h.

Thác Cam Ly

Thác Cam Ly là thác gần trung tâm thành phố Đà Lạt nhất, chỉ cách khu Hòa Bình 2,3 km về phía Đông - Nam, ở gần nhà số 68 đường Hoàng Văn Thụ. Lộ trình đến thác Cam Ly: Khu Hòa Bình - Đường 3 tháng 2 - Hoàng Văn Thụ.

 

 

Thác không đẹp và thường ít nước vào mùa khô nhưng nhờ vị trí gần trung tâm thành phố nên du khách thường ghé thăm. Một chiếc cầu bắc ngang qua suối Cam Ly phía trên thác giúp du khách đi từ bên này sang bên kia dòng suối. Dưới chân thác là một vườn hoa nhỏ. Phong cảnh chung quanh thác không còn hoang vu như ngày xưa.

Thác Cam Ly do Công ty dịch vụ du lịch Đà Lạt quản lý và khai thác, với tổng diện tích sử dụng là 16,5 ha.

Người Lạch gọi thác Cam Ly là Liêng Tô Sra, về sau đổi thành thác Cam Ly mang tên đoạn suối chảy từ Liêng Tô Sra đến sông Đạ Đờng.

Thác Datanla

Thác Đa Tăng La (Datanla) ở ven quốc lộ 20 gần đèo Prenn, cách Đà Lạt gần 5 km. Nằm trong khu rừng dự trữ nên Đa Tăng La còn có vẻ đẹp hoang dã. Nước đổ mạnh trên những tảng đá nhiều tầng chồng chất giữa hai triền dốc tạo thành nhiều thác liên tiếp, có chỗ nước chảy giữa khe nứt tạo thành hố sâu gọi là “Vực tử thần”.

 


 

Ảnh: Đi tàu trượt xuống thác

Du khách muốn xuống tham quan thác phải đi bộ theo một trong hai con đường dốc quanh co với trên 200 bậc cấp.

Phía dưới thác Đa Tăng La là một chuỗi thác khác, hùng vĩ nhất là thác Đoong Nham, đường khó đi.

Đa Tăng La là biến âm của tên dòng suối Đa Pơrla, người Lạch gọi thác Đa Tăng La là Liêng Đu Rpu Kwăng (con trâu đực té) vì theo truyền thuyết, ngày xưa có một con trâu đực té xuống thác này.

Thác Pongour

Nằm trên địa bàn xã Tân Hội, huyện Đức Trọng, cách Đà Lạt 45km, cách đường quốc lộ 20 khoảng 7 km. Thác thuộc loại đẹp, hùng vĩ nhất Tây Nguyên với chiều cao hơn 20m, bề mặt thác dài hàng trăm mét và một thềm thác rộng hàng chục ha có thể tổ chức vui chơi cho hàng ngàn người một lúc. Các nhà du lịch đã không ngần đặt cho Pongour biệt hiệu “Nam Phương đệ nhất thác”.

 

 

Theo truyền thuyết của đồng bào dân tộc thì thác gắn liền với câu chuyện về nàng Ka Nai - một Tù trưởng xinh đẹp đã có công xây dựng nên cuộc sông thịnh vượng của đồng bào K’ho. Tương truyền Ka Nai có 4 con tê giác và Ponguor là dấu vết các con tê giác cắm sừng xuống đất.

Từ nhiều năm nay, Ponguor có ngày hội thác vào rằm tháng giêng hàng năm và ngay này đã trở thành một ngày vui chơi xuân của thanh niên Đà Lạt - Lâm Đồng với nhiều trò chơi dân gian, các nghi lễ văn hóa truyền thống của các dân tộc bản địa. Thác hiện do công ty TNHH Đất Nam (thành phố Hồ Chí Minh) quản lý và khai thác.

Thác Prenn

Trên đường từ TP. Hồ Chí Minh lên Đà Lạt, vừa qua khỏi ranh giới của thành phố Đà Lạt với huyện Đức Trọng, du khách gặp thác Prenn.

Thác Prenn nằm sát ngay bên cạnh quốc lộ 20, dưới chân đèo Prenn.

Từ trên cao, nước đổ qua một vòm đá huyền vũ rơi xuống, trải đều như một bức rèm trắng xóa đẹp tựa như mái tóc của nàng tiên, do đó thác còn có tên là Tiên Sa.

 

 

Khách đến tham quan thác Prenn thích thú đi qua chiếc cầu nhỏ bắc trong lòng thác, để mặc cho bụi nước tung tóe bám vào người, mang lại một cảm giác sảng khoái đặc biệt.

Trong những năm 1960, thác Prenn có một vườn thú nhỏ với voi, cọp, gấu, hươu, nai, khỉ, trăn, công...

Khu du lịch thác Prenn do Công ty dịch vụ du lịch Đà Lạt quản lý và khai thác.

Trước đây, phía trên thác Prenn có buôn Prền, nên thác mang tên gọi phổ biến là Prenn. Người Lạch gọi thác Prenn là Liêng Tarding.

Trong ngôn ngữ Lạch, Prền là tên gọi của cây cà đắng, nhưng buôn Prền là một địa danh không thể giải thích được như một số địa danh khác của người Lạch.

Thác Hang Cọp

Vài năm trở lại đây, du khách đến Đà Lạt có nghe nói đến thác Hang Cọp, một thắng cảnh mới khai thác ở vùng Trại Mát thuộc phường 11, thành phố Đà Lạt. Nhưng đi đến thác để tận mắt ngắm nhìn cảnh đẹp này thì còn ít người đi tới được bởi đường đến thác tuy không xa nhưng lại khó đi.

Từ trung tâm thành phố Đà Lạt đi về phía Trại Mát theo quốc lộ 20 (quốc lộ 11 cũ) đến nhà thờ Trại Mát, khoảng non 10 cây số, có một ngã rẽ đi vào một con đường đất ở phía tay trái, đó là đường vào thác Hang Cọp.

Qua hơn 5 km đường đất quanh co dưới tán rừng thông, qua những con dốc xuôi thoai thoải chằng chịt rễ cây, khách đã nghe tiếng thác chảy réo rắt từ xa xa. Không gian ở đây rất im vắng, không bị khuấy động bởi tiếng ồn ào của phố thị. Nắng vàng xuyên qua lá thông chiếu xuống một thứ ánh sáng làm mát dịu con đường đi.

 

 

Sau khi lội qua một con suối nhỏ nước chảy trong veo là đã đến đầu ngọn thác. Từ đó, theo một bậc cấp bằng xi măng đi xuống vực sâu, hai bên cây lá chen chúc dày đặc. Đến chân thác, hơi nước tỏa mù như sương, khí đá bốc ra lạnh ngắt và ẩm ướt. Từ chân thác ngước mắt nhìn lên: một cột nước trắng xóa từ núi đá cao đổ xuống, dội ầm ì vào một hố nước sâu rồi thoát đi theo một dòng suối ngoằn ngoèo qua các tảng đá lớn và lặng lờ chìm lẫn vào rừng cây rậm rạp.

Thác cao ước khoảng 25m, rộng hơn 10m. Đến mùa mưa, nước nhiều, dòng thác trải rộng khoảng hơn 5m, mùa nắng thì dòng thác hẹp hơn nhưng vẫn đổ xuống với tốc độ rất nhanh và mạnh tạo thành những mảng bọt trắng xóa tràn lên các tảng đá hoa cương lớn nằm dưới chân thác. Cảnh vật quanh thác còn hoang sơ: rừng thông ở trên đồi cao thẳng đứng dưới bầu trời xanh trong, ở dưới lũng sâu là nhiều loại cây tạp, cây lá rộng khác chen chúc rậm rạp, cành lá đan xen mà ánh nắng mặt trời không chiếu xuyên qua được. Nếu như không có những bậc cấp bằng xi măng dẫn xuống thác thì đứng ở đây khách sẽ ngỡ như đứng giữa khoảng rừng núi âm u chưa có dấu chân người.

Thung lũng tình yêu

Năm 1972, hồ Đa Thiện rộng 6 ha được hình thành sau khi một đập nước được xây dựng ngăn giữa hai ngọn đồi để giữ nước phục vụ sản xuất và tạo nên một thắng cảnh thơ mộng với mặt hồ phẳng lặng giữa những đồi thông trùng điệp.

Năm 1972, hồ Đa Thiện rộng 6 ha được hình thành sau khi một đập nước được xây dựng ngăn giữa hai ngọn đồi để giữ nước phục vụ sản xuất và tạo nên một thắng cảnh thơ mộng với mặt hồ phẳng lặng giữa những đồi thông trùng điệp.

 

 

 

Đập nước này thường gọi là Đập III Đa Thiện. Trước đó, Đa Thiện đã xây dựng 2 đập nước khác, nhỏ hơn dùng cho trồng rau.

Thung lũng hồ Đa Thiện được mang tên Thung lũng Tình yêu (Vallée d’Amour) và giải thích theo hai cách:

  1. Trong nửa đầu thế kỷ 20, thung lũng gần Dinh Bảo Đại (Dinh III) được gọi là Vallée d’Amour (Thung lũng Tình yêu), sinh viên Viện Đại học Đà Lạt nhận thấy thung lũng gần ấp Đa Thiện là nơi hẹn hò lý tưởng của thanh niên nên cũng đặt tên là Thung lũng Tình yêu. 
  2. Hướng đạo sinh thường cắm trại ở thung lũng Đa Thiện và đặt tên Thung lũng Tình yêu với ý nghĩa tình yêu thiên nhiên, đất nước.

Cách Khu Hoà Bình 4,6 km về hướng Bắc theo đường chim bay. Thung lũng Tình yêu là một trung tâm du lịch thanh thiếu niên do Công ty dịch vụ du lịch thanh niên Đà Lạt quản lý, với diện tích 342 ha. Du khách đến tham quan thường dừng lại trên đồi cao, chụp ảnh, ngắm nhìn toàn cảnh đồi núi chập chùng, đỉnh núi Lang Biang án ngữ phía Bắc, cưỡi ngựa, đi xe đạp nước, dùng du thuyền lướt trên mặt hồ, mua đặc sản hay tổ chức những bữa ăn dã ngoại nhẹ nhàng.

Có 3 lộ trình đi từ Khu Hoà Bình đến Thung lũng Tình yêu:

  1. Khu Hòa Bình - Lê Đại Hành - Nguyễn Thái Học - Đinh Tiên Hoàng - Phù Đổng Thiên Vương - Đường vòng Lâm Viên.
  2. Khu Hòa Bình - Nguyễn Văn Trỗi - Bùi Thị Xuân - Phù Đổng Thiên Vương - Đường vòng Lâm Viên.
  3. Khu Hòa Bình - Lê Đại Hành - Nguyễn Thái Học - Bà Huyện Thanh Quan - Nguyên Tử Lực - Đường vòng Lâm Viên  

(st)

 

Lần cập nhật cuối ( Thứ bảy, 02 Tháng 4 2011 11:20 )
 
Email In PDF.

Trà sen Hồ Tây - thú ẩm thực tao nhã người Hà Nội 

Trà ướp hoa sen là một loại đặc sản quý của Hà Nội. Nổi tiếng nhất và được lưu truyền bấy lâu vẫn là trà sen Hồ Tây. Ướp trà sen là cả một kỳ công. Có lẽ vì vậy, giá một kg trà sen trên thị trường hiện khoảng bốn triệu đồng.

Sen Tây Hồ ngày càng hiếm

Vùng sen Hồ Tây khá nổi tiếng và mỗi người có một tên gọi khác nhau. Khách du lịch gọi là bãi sen Công viên nước Hồ Tây, còn giới làm trà sen gọi là đầm 7 ở phường Nhật Tân. Đầm sen đó nằm sát kề công viên nước Hồ Tây nên dễ tìm dù con đường đất dẫn vào đầm khá gồ ghề.

Mùa hè, ngay từ sáng sớm, hòa chung với những tốp các cụ đi tập thể dục là những tốp khách du lịch, nam thanh nữ tú đến ngắm hoa chụp ảnh và xem cách bóc tách nhị sen làm nguyên liệu cho ướp trà. Đi quanh đầm, có thể bắt gặp các chòi của những người bóc tách sen để làm nguyên liệu cho trà sen.

Một trong những người có thâm niên trong nghề này là bà Oanh Chèm với hơn 30 năm kinh nghiệm. Bà được thừa kế nghề này từ mẹ chồng, người gốc Ngọc Hà.

Bà Oanh cho biết mùa sen rất dễ nhớ, đó là từ ngày sinh đến ngày mất của Bác Hồ (từ ngày 19/5-2/9). Sen dùng ướp trà phải là loại có bông lớn, màu hồng tươi, bông hoa trông xốp, nhẹ. Đây là loại thơm nhất. Loại sen hồng bông nhỏ, trông chắc nặng, màu hồng sẫm ngả tím, các cụ xưa vẫn phân biệt gọi là quỳ, mùi nhạt và kém thanh. Để có một cân trà thơm cần có 800-1.000 bông sen.

Bà Oanh đã khảo sát sen ở nhiều nơi để làm nguyên liệu nhưng sen đạt độ hương thanh ngát chỉ có sen ở Hồ Tây. Ngay trong khu vực Hồ Tây, trước kia có sen mọc tại đầm Đồng Trị, Thủy Sứ, làng Quảng Bá; trong đó, sen ở đầm Đồng Trị ở mạn phủ Tây Hồ được cho là tốt nhất nhưng tiếc rằng sau khi một loạt quán xá mọc lên, xả rác thải gây ô nhiễm nên không còn đất cho sen.

Các nơi khác quanh khu vực cũng trong tình trạng tương tự; nên giờ, sen Hồ Tây người ta hay nhắc đến chính là sen đầm phía phường Nhật Tân.

Chị Ngọc Trâm, con dâu bà Oanh cho biết thêm tiếc lắm, nhiều người gắn bó với sen đều biết sen đầm Đồng Trị là thơm nhất, nhưng dân mình không biết giữ. Vừa rồi có bàn luận chọn hoa nào làm quốc hoa; trong đó có hoa sen nhưng không thấy ai bàn làm gì để giữ cho hoa sen Hà Nội, đúng hơn là hoa sen Hồ Tây. Hơn nữa, năm nay hạn hán, có sen mọc là may mắn lắm rồi.

Bà Phương, người dân trong khu vực phường Nhật Tân cũng cho biết trước đầm này rộng lắm, nhưng quá trình đô thị hóa đã khiến đầm bị thu hẹp nhiều. Không biết với tốc độ đô thị hóa như hiện nay, đầm sen khu Nhật Tân có bị biến mất như các đầm sen khác trong chính lòng Hồ Tây nữa không?.

Nhọc nhằn và công phu

Bà Oanh cho biết ướp trà sen có hai cách: ướp “xổi” và ướp bằng gạo sen tách ra. Ướp “xổi” là cách bỏ một nhúm trà vào bông hoa rồi lấy lá sen buộc lại, để từ sáng đến chiều là dùng pha trà được.

Ngày xưa các cụ công phu hơn, thường ướp vào ban đêm, khi sen mới hé nở, cho một lượng trà vào trong hoa, sau đó buộc kín bông hoa, ép không cho hoa nở. Sáng sớm, tầm năm giờ ra hái những bông hoa có chè đem về uống.

Bây giờ đơn giản hơn, sáng sớm, người trong đầm hái hoa về, chọn bông mới hé nở cho một dúm chè (khoảng 10 giờ) rồi buộc lại bằng chính lá sen.

Chè loại này ướp từ sáng đến chiều là uống được. Nếu bảo quản trong điều kiện khô thoáng hoặc để trong tủ lạnh có thể để được 7-10 ngày. Cách ướp này chỉ có thể dùng trong vụ sen với hoa tươi.

Cách ướp phổ biến bây giờ là ướp bằng gạo sen tách ra. Sen được hái từ lúc sáng sớm, khi Mặt Trời còn chưa lên để hương sen không bị tản đi. Mở búp sen ra để tách lấy nhị hoa, nơi chứa đựng những hạt nhỏ li ti chỉ nhỉnh hơn đầu tăm, có màu trắng đục dính trên đầu sợi chỉ vàng. Đó chính là túi hương thơm của sen, cái mà người ta vẫn gọi là “gạo sen.”

Công việc này tốn khá nhiều thời gian, mỗi lần lấy nhị một bông hoa là phải cho ngay vào cái hộp có nắp đậy để khỏi mất hương thơm. Sau khi nhặt hết các sợi vàng, cho chỗ "gạo" thu được vào ướp với trà. Sau đó sàng bỏ các hạt gạo, sao lên để giảm bớt độ ẩm, cứ thế ba lần thì món trà sen hảo hạng mới hoàn tất.

Để có cân trà sen quả là công phu: “Thường ướp một cân trà mất từ ba đến bốn tuần. Trong quá trình lấy gạo sen phải tránh nắng, gió để gạo sen không bị khô và bay hương thơm. Trà thường được ướp ngay vào buổi sáng bởi có như vậy mới hấp thu hương thơm của sen.

Nguyên liệu trà mộc để ướp sen có hương thơm vừa phải, cánh trà phồng lên để hút nhiều hương thơm từ gạo sen và giữ được vị ngọt dịu đặc trưng của trà sen.

"Ướp trà sen chính là công đoạn khó nhất bởi công thức, ai cũng biết nhưng để có hương vị đặc trưng đòi hỏi người làm phải có kinh nghiệm và bí quyết của nghề,” chị Trâm cho biết./.

(Xuân Cường, Báo Tin tức/Vietnam+)

 
Trang 10 trong tổng số 15

Số lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay2995
mod_vvisit_counterHôm qua3296
mod_vvisit_counterTrong tháng56434
mod_vvisit_counterTháng trước102697
mod_vvisit_counterTất cả882004

Máy làm rau mầm


Tìm kiếm

Hướng dẫn

Bản đồ cửa hàng TPHCM

TPHCM:

Tel: 090.8219.742 

      091.2233.842

Hà Nội:

Tel: 0904.924.054

     01646.123.525

Hỗ trợ kinh doanh

online 1

Kinh doanh
 
online 2

Kinh doanh

Hiện có 61 khách Trực tuyến

Công Ty Du Lịch Thanh Niên

Tour du lịch trong nước; Tour du lịch nước ngoài; Tour TP HCM đến Ninh Chữ - Ninh Thuận; City tour tại Ninh Thuận; Sản phẩm truyền thống; quà lưu niệm Ninh Thuận.

Quảng cáo

Chuyên
 kinh doanh và cung cấp các mặt hàng đậu bột, gia vị thực phẩm cho các
nhà hàng,khách sạn,quán ăn,tiệm tạp hóa và thương lái bán buôn phục vụ
đến nhu cầu của người tiêu dùng.

Máy làm giá đỗ