Địa điểm du lịch Đà Lạt
Chợ Đà Lạt
Năm
1929, một ngôi chợ bằng cây, lợp tôn gọi là “Chợ cây” được dựng lên tại
vị trí Rạp chiếu bóng 3 tháng 4 ở Khu Hòa Bình hiện nay.
Năm 1937, sau một trận hỏa hoạn lớn, Công ty SIDEC xây dựng một ngôi chợ mới bằng gạch để thay thế “Chợ cây”.
Năm
1958, chợ Đà Lạt hiện nay được khởi công xây dựng trên một vùng đất
sình lầy trồng xà-lách-son (cresson), do kiến trúc sư Nguyễn Duy Đức
thiết kế, nhà thầu Nguyễn Linh Chiểu thi công, hoàn thành vào năm 1960.
Về sau, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ tham gia chỉnh trang chợ Đà Lạt.
Ngày
3.4.1993, khởi công xây dựng khối B chợ Đà Lạt do kiến trúc sư Lê Văn
Rọt và Trần Hùng thiết kế. Công trình do Uỷ ban nhân dân thành phố Đà
Lạt đầu tư.
Chợ Đà Lạt có 3 tầng, là một trong những chợ lầu đầu tiên ở Việt Nam.
Chùa Linh Phong
Chùa
Sư nữ Linh Phong cách thành phố Đà Lạt khoảng 4km về hướng Đông Nam
(Trại Hầm). Chùa được xây dựng trên một đỉnh núi nhỏ cao vút ẩn hiện
giữa ngàn thông vi vu lộng gió.
Khởi đầu, năm
1944, chùa là một niệm Phật đường mái tôle vách ván đơn sơ, cheo leo
trên chóp núi, do Hòa thượng Thích Bích Nguyên chủ trì.
Năm
1948 đến 1962, Sư bà Thích Nữ Từ Hương trùng tu và xây dựng nên Linh
Phong Ni Tự, một ngôi chùa trang nghiêm, tráng lệ như ngày nay... Cổng
Tam quan được xây dựng bằng đá xanh, tạo nên nét uy nghi cho ngôi tịnh
đường theo triết lý Tam quán "Không, Giả, Trung". Chùa (16x25m) chia làm
5 gian kiến trúc theo kiểu những đình làng ở miền Trung. Mái kép cong
được trang trí bằng tứ linh (long, lân, qui, phụng) uốn lượn giữa gió
núi mây ngàn.
Chánh điện thờ Đức Phật A Di Đà cao
1,8m. Ở hai bên, phần trước thờ tượng Quan Thế Âm Bồ Tát và Đức Đại Thế
Chí Bồ Tát bằng đồng bóng loáng, phần sau thờ Tổ và Linh. Phía sau
chùa, trên đồi có một ngôi tháp nhỏ cao 3 tầng, hình lục giác sẽ là nơi
an nghỉ khi Sư bà viên tịch.
Đến viếng chùa Linh
Phong, du khách sẽ gặp Sư bà Từ Hương, một Ni trưởng cao niên, tuổi
ngoại thất tuần, dáng người tao nhã. Ta vẫn có thể hình dung được một
người con gái nhan sắc năm xưa, tuổi vừa đôi mươi đã rời bỏ một gia đình
thượng lưu giàu có để xuất gia đầu Phật, lãng quên việc đời, tu hành
chánh quả.
Chùa Linh Sơn
Cách
Hòa Bình hơn 700m về hướng Tây Bắc, chùa Linh Sơn được xây dựng trên
một ngọn đồi rộng khoảng 4ha trồng trà, cà phê, bạch đàn, thông, tùng,
trắc bách diệp, mai anh đào... Cảnh chùa trang nghiêm, cổ kính. Phía
trước sân chùa là bãi cỏ xanh với những luống hoa, tảng đá lớn, cụm sơn
giả giữa các hồ nước nhỏ.
Hai bên bậc cấp dẫn vào
chánh điện là hai con rồng uốn khúc. Ở giữa điện Phật thờ tượng Phật
Thích Ca bằng đồng nặng 1.250 kg đúc năm 1952. Bên phải tiền đường là
tháp hình bát giác có vẻ đẹp kiến trúc phương Đông.Chùa được xây dựng từ
năm 1936, hoàn thành năm 1940.
Dinh I
Dinh
I là một hệ thống công trình rất lớn ở đường Trần Quang Diệu, thuộc
phường 10, thành phố Đà Lạt, nằm cách trung tâm Đà Lạt chừng 4km về
hướng Đông Nam, trên một ngọn đồi với cảnh quan đẹp và thơ mộng, độ cao
1550m có rừng thông bao quanh. Tổng diện tích khoảng 60ha, độ dốc trung
bình khoảng 500. Nguyên đây là biệt thự của nhà triệu phú - một viên
chức người Pháp - Robert Clément Bourgery. Ông là
chủ nhà máy điện ở Thượng Hải và đã cho xây dựng biệt thự này vào trước
những năm 1940. Công trình được xây dựng ở giữa rừng thông, trên một
chỏm đồi nhìn xuống thung lũng rừng săn bắn xưa kia của Bảo Đại.

Sau khi Bảo Đại được người Pháp đưa trở lại nắm quyền (1949), thấy nơi đây khá
đẹp và yên tĩnh nên chính phủ Việt Nam do Bảo Đại làm Quốc trưởng đã
mua lại từ tháng 8-1949 và cho sửa sang toàn bộ dinh cơ này. Vua Bảo Đại
đã dùng dinh cơ này làm tổng hành dinh và nơi làm việc cho các quan
chức trong “lãnh thổ” của mình. Đến năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm
sử dụng làm dinh dành riêng cho tổng thống. Dinh
được sửa sang lại, làm thêm đường hầm, hai bên có phòng làm việc của các
phụ tá, sĩ quan,… Đường hầm này là lối thoát hiểm, kín đáo thông
ra một sân bay trực thăng nhỏ, đề phòng các cuộc pháo kích và đảo
chính. Sau khi Ngô Đình Diệm bị trừ khử, dinh thự này vẫn được dùng làm
nơi nghỉ mát của các nguyên thủ quốc gia kế tiếp của chế độ cũ cho đến
năm 1975. Sau năm 1975, được dùng làm nhà khách của Trung ương và sau đó
do Công ty DRI quản lý và sử dụng.
Dinh nằm trong một rừng thông xanh thẫm. Lối vào dinh là một con
đường rải nhựa với hai hàng cây tràm thân trắng cao vút. Cuối con đường
là một đảo hoa hình quả trứng (oval) làm bình phong trang trí để xoay
chuyển hướng đến sảnh đón chính của toà nhà. Chính yếu tố này đã tôn
thêm vẻ cổ kính cho công trình. Quanh đó còn có một số hạng mục công
trình kiến trúc khác như nhà dành cho ngự lâm quân, nhân viên phục vụ và
một hệ thống sân sườn, bể nước vòi phun, lối đi dạo, vườn ngự uyển dẫn
vào rừng săn bắn có chỗ nghỉ chân với hồ tắm thiên nhiên tạo thành một
quần thể kiến trúc đẹp, sang trọng và hoàn chỉnh.
Tòa
nhà chính gồm một tầng hầm, một tầng trệt, một tầng lầu. Mặt bằng được
bố cục đối xứng với lối vào chính giữa, hệ thống cầu thang và hành lang mở
ra hai bên. Tầng trệt có sảnh lớn, phòng tiếp khách, phòng họp lớn,...
Lầu 1 gồm các phòng ngủ bao xung quanh một hành lang giữa.
Dinh
I được xây dựng kiên cố, tường xây gạch đá, mái lợp ngói. Trên mái có
nhiều cửa sổ, mái bẻ góc ở đuôi, có một số ống khói. Nét cổ điển không
chỉ thể hiện ở sự đối xứng nghiêm ngặt trong mặt
bằng mà còn nằm trên hệ cửa sổ với những vòm cung tròn. Phần nửa dưới
của tầng trệt xây bằng đá chẻ, phần còn lại xây gạch. Toàn bộ hệ thống
cửa, cầu thang, sàn lầu, vật dụng đều bằng gỗ. Cửa chính cũng có
dạng vòm cung nguyên nhưng lại được kết hợp với mái đón bằng ngang, đó
là một điểm cách tân trong kiến trúc dinh I. Mặt đứng công trình được
trang trí với nhiều tiểu tiết càng làm tăng thêm dáng vẻ cổ kính, uy
nghi mà tao nhã. Dinh I là một công trình kiến trúc độc đáo, thể hiện rõ
những ảnh hưởng của trào lưu kiến trúc tân cổ điển của châu Âu.
Dinh II
Dinh II là dinh thự mùa hè của Toàn quyền Decoux, hay còn gọi là dinh Toàn quyền, là nơi ở và làm việc của Decoux
vào mùa hè hàng năm, từ tháng 5 đến tháng 10.
Tọa lạc trên một ngọn đồi thông rợp bóng ở độ cao 1.540m trên đường Trần Hưng Đạo, cách trung
tâm Đà Lạt 2km về hướng Đông-Nam. Dinh 2 được xây dựng từ năm 1933 là một tòa lâu đài tráng lệ gồm 25 phòng được bài trí cực kỳ sang trọng. Đứng ở nơi đây, du khách có thể nhìn thấy hồ Xuân Hương cách xa chừng 1km thấp thoáng qua những tán lá thông.

Từ ngày chuyển Phủ Toàn Quyền về đây làm việc, Decoux đã cho xây dựng những đường hầm bí mật rất kiên cố nhằm bảo đảm an toàn tuyệt đối choông và gia đình. Đường hầm này được nối vào hầm chứa rượu với bề ngang chừng 1.5m và bề cao hơn 1m với nhiều ngóc ngách được đổ bê tông chắc chắn.
Dưới thời Ngô Đình Diệm, Dinh 2 trở thành nơi nghỉ mát của gia đình Ngô Đình Nhu. Năm 1964 khi tướng Nguyễn Khánh lên nắm quyền trongbối cảnh chính trị đầy bất trắc, ông đã chọn Dinh II làm Tổng hành dinh trong mùa nghỉ mát và đã cho tu bổ xây dựng thêm các đường hầm bí mật trên tận sườn đồi theo hướng Đông-Nam và Tây-Bắc phòng khi có đảo chánh.
Dinh III
Dinh
III là tên gọi để chỉ biệt thự nghỉ hè của vua Bảo Đại, vị hoàng đế
cuối cùng của triều Nguyễn đồng thời cũng là vị hoàng đế cuối cùng của
các triều đại phong kiến Việt Nam. Sau này khi người Pháp đưa Bảo Đại
trở lại nắm quyền từ năm 1948 rồi thành lập “Hoàng triều Cương Thổ” vào
năm 1950, nơi đây còn được gọi là Biệt điện Quốc trưởng.
Được xây dựng
từ năm 1933 gồm 25 phòng, Dinh 3 là một tòa dinh thự vô cùng trang nhã,
gắn mình trong khung cảnh thơ mộng của một đồi thông ở độ cao 1539m trên
đường Triệu Việt Vương, cách trung tâm Đà Lạt chừng 2km về hướng
Tây-Nam.
Do một may mắn của lịch sử, Biệt điện Quốc trưởng còn được bảo tồn gần như nguyên trạng khiến cho du khách đến
đây có thể cảm nhận một bầu không khí vừa trang nghiêm lại vừa gần gũi,
ấm cúng của một gia đình hoàng tộc căn phòng làm việc của vua Bảo Đại
với những ấn tín quân sự, ngọc tỷ của Hoàng đế, quốc thư, quốc kỳ các
nước có quan hệ ngoại giao, tượng bản thân của vua Bảo Đại và vua cha
Khải Định, phòng của hoàng hậu Nam Phương, hoàng tử Bửu Long. Phương Mai
công chúa, hình ảnh gia đình và những vật dụng thường ngày… tất cả đều
như mới hôm qua một chút gì đó se sắt chạnh lòng gợi nhớ một thuở vàng
son nay đã không còn !
Hồ Xuân Hương
Là
hồ đẹp nhất nằm ở trung tâm thành phố Ðà Lạt. Ðây là hồ lớn ở Ðà Lạt,
chu vi 5.000m rộng khoảng 8 ha. Hồ Xuân Hương có hình mảnh trăng lưỡi
liềm, là nơi thơ mộng, cuốn hút khách nhàn du, cũng là nơi hò hẹn của
những đôi bạn tâm tình. Mặt hồ phẳng lặng như tấm kính pha lê, soi bóng
những hàng thông reo hát suốt ngày đêm. Những con đường quanh hồ rợp
bóng cây tùng, tạo thêm vẻ thơ mộng cho hồ.
Khi
xưa hồ chỉ là con suối chảy giữa thung lũng, từ đó mà phát sinh tên gọi
Đà Lạt (dòng suối của người Lạch). Đập đá ngăn suối tạo hồ mang tên Cầu
Ông Đạo (Quản Đạo Phạm Khắc Hòe). Còn tên Xuân Hương là do ông Nguyễn
Vỹ, Chủ tịch Hội đồng thị xã Đà Lạt vào năm 1953 đổi từ tên Grand Lac do
người Pháp đặt trước kia. Ven hồ là bờ cỏ xanh mướt điểm những cây
thông, tùng, anh đào, liễu rủ...xinh đẹp tạo thành một khung cảnh thơ
mộng cho những cuộc hẹn hò.
Chiều tàn hay đêm
đến, du khách có thể tản bộ hay lọc cọc xe ngựa quanh hồ để lâng lâng
cùng chút se se lạnh cao nguyên hoặc ngồi nhâm nhi ly rượu, tách cà phê ở
các nhà hàng Thủy Tạ, thanh Thủy ven hồ và thả hồn lăn tăn cùng mặt
nước Xuân Hương. Ngoài ra du khách còn có thể đạp pedalo, đi xuồng máy
hay chèo thuyền cao su trên hồ.
Hồ Tuyền Lâm
Từ
một thung lũng hoang vu ở độ cao hơn 1.000m so với mặt biển bị bao bọc
bởi bốn bề rừng núi và dòng suối tía huyền thoại bắt nguồn từ những ngọn
núi cao ngất và đại ngàn hùng vĩ ở nam Tây Nguyên; cuối những năm 80,
những người thợ xây dựng Bộ Thủy lợi đã tạo nên hồ Tuyền Lâm, với diện
tích 365 ha, chỗ sâu nhất 36m, cung cấp nước tưới cho hơn 1.400 ha hoa
màu, lúa và cây công nghiệp ở các xã tây bắc huyện Ðức Trọng.
Ðiều
kỳ thú ở hồ Tuyền Lâm là dù mùa khô, đằng đẵng suốt sáu tháng trời
không một hạt mưa, hồ vẫn đầy ắp nước. Mặt hồ quanh năm xanh biếc, kể cả
những ngày mưa, nhận nước tuôn như thác từ các dòng suối và khe núi.
Mặt hồ ngày đêm lăn tăn gợn sóng lung linh, soi bóng những hàng cây xanh
ngắt ven hồ, hiếm khi có sóng lớn. Quanh hồ, những rừng thông ba lá tự
nhiên và mới trồng phủ kín những ngọn núi, quả đồi, trải ngút ngàn tầm
mắt. Tất cả cùng hòa quyện, vẽ nên bức tranh thiên nhiên yên tĩnh, thanh
bình và thơ mộng lạ kỳ.
Ðến giữa những năm 90,
hồ Tuyền Lâm rộng gần mười lần hồ Xuân Hương, lọt giữa rừng thông mênh
mông và chỉ cách trung tâm Ðà Lạt 6km trở thành tâm điểm chú ý của du
khách. Cũng có người dành hẳn một khoảng thời gian du ngoạn trên mặt hồ
để tận hưởng không khí trong lành, mát mẻ và sự tĩnh lặng quý báu. Ðiều
này khơi dậy tiềm năng mới của hồ Tuyền Lâm, đó là du lịch sinh thái. Sơ
khai là những cá nhân tự đóng tàu cho khách thuê và chở khách tham quan
mặt hồ, rừng thông và thác Bảo Ðại.
Không lâu
sau, cuối hồ xuất hiện các khu dã ngoại Nam Qua và Ðá Tiên của Công ty
trách nhiệm hữu hạn du lịch Phương Nam, mở đầu cho việc khai thác du
lịch sinh thái và văn hóa một cách có tổ chức. Du lịch trên mặt hồ ngày
càng mở ra rộng hơn; hướng tới nét đặc sắc của nền văn hóa các dân tộc
thiểu số nam Tây Nguyên. Khách có thể thưởng thức thịt nướng, cơm lam,
rượu cần, đốt lửa trại, tham gia lễ hội cồng chiêng, ngắm nhìn những tác
phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ, thư giãn trên những ngôi nhà sàn, nhà dài
lộng gió, bắn cung tên và thám hiểm rừng sâu. Khách đến Tuyền Lâm đông
dần và hình ảnh từng đoàn du khách dã ngoại trên hồ và các khu du lịch
kề liền đã trở nên phổ biến. Năm 1998, Khu du lịch hồ Tuyền Lâm chính
thức thành lập và cũng thời gian này, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận
hồ Tuyền Lâm là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
Vào
xuân, hồ Tuyền Lâm, lấp lánh mầu xanh ngọc bích, khắc họa thêm nét thơ
mộng, lãng mạn của Ðà Lạt vốn đã xinh đẹp. Ðây là danh thắng của Tây
Nguyên nằm trong 20 khu du lịch trọng điểm ở Việt Nam.
Thiền Viện Trúc Lâm
Nằm
trong khu vực khu du lịch Hồ Tuyền Lâm, du khách đến Thiền Viện Trúc
Lâm sẽ được chiêm ngưỡng một kiến trúc Tôn giáo được tọa lạc trên một
đỉnh đồi.

Hồ Tuyền Lâm nhìn từ Trúc Lâm Thiền Viện.
Từ Thiền Viện Trúc Lâm, có thể nhìn
thấy toàn cảnh hồ Tuyền Lâm. Tại đây, quý khách có thể cúng bái, vãng
cảnh chùa hoặc nghiên cứu về các truyền thuyết tôn giáo từ thời Vua Trần
Nhân Tông.
Có các điểm buôn bán quà lưu niệm, các đặc sản của Đà Lạt
Hồ Than Thở
Xưa
chỉ là một hồ nhỏ, về sau người Pháp cho ngăn đập nước tạo thành hồ và
đặt tên la Las des Suopirs. Sau đó, năm 1956 lại trở về với tên cũ Than
Thở.
Hồ cách trung tâm thành phố 6km về phía
đông, trên đường đi Thái Phiên hoặc Chi Lăng. Hồ nằm trên đồi ao giữa
một vùng rừng thông tĩnh mịch. Trước đây hồ cung cấp nước cho thành phố.
Cảnh vật quanh hồ thật im vắng, mặt hồ trầm ngâm phẳng lặng. Con đường
đất nhỏ hẹp quanh hồ mất hút xa xa.

Gió lên,
thông reo, lời ru khi êm ái, khi như nức nở khóc than. Quanh hồ có bao
nhiêu truyền thuyết, tình sử…Hồ Than Thở là một trong những thắng cảnh
nổi tiếng ở Đà Lạt do tên gọi khá hấp dẫn và cảnh quan quanh hồ. Sau một
thời kỳ khu rừng thông quanh hồ bị đào bới để khai thác thiếc, hồ Than
Thở được Công ty trách nhiệm hữu hạn Thùy Dương chỉnh trang lại để thu
hút du khách. Đến đây, du khách dạo chơi dưới rừng thông, cưỡi ngựa, đi
trên chiếc cầu gỗ, chụp ảnh...
Núi Lang Biang
Nói
đến núi non Đà Lạt, nhiều nhà nghiên cứu địa lý, lịch sử, dân tộc học
và cả khách du lịch đều nghĩ đến hai ngọn Lang Bian mà người Việt gọi là
Núi Bà và Núi Khổng Lồ (Nhút) cùng rặng Biđúp, mặc dù ngày nay Lang
Bian (Núi Bà) thuộc huyện Lạc Dương. Ông Khổng Lồ (Nhút) cũng thế, còn
rặng Biđúp thực tế ở Lạc Dương giáp giới với Thuận Hải. Riêng với hai
ngọn Lang Bian, các nhà nghiên cứu Pháp đã tìm hiểu khá nhiều, người
Việt đặt tên Núi Bà là về sau này.
Đỉnh LangBiang đầy sương .Ảnh : Vietbalo

Trong các
truyền thuyết thần thoại, truyền thuyết của các dân tộc ít người Đà Lạt,
ba rặng núi Lang Bian (Lâm Viên - Núi Bà), Khổng Lồ (Nhút) và Biđúp
quan hệ rất mật thiết với nhau và thường là nguồn cảm hứng sáng tạo của
các thi ca.
Đỉnh Lang Bian cao 2.167m và Biđúp
cao 2.287m. Du khách ở Đà Lạt có thể thấy hai ngọn Lang Bian (Núi Bà)
như bộ ngực tràn căng sức sống của một phụ nữ xinh đẹp khỏa thân nằm
ngửa nhìn trời xanh mênh mang trong những ngày đông nắng lạnh. Nhìn từ
Đà Lạt, du khách ngỡ rằng hai đỉnh Lang Bian liền nhau có thể đi từ đỉnh
này sang đỉnh kia. Nhưng sự thật lại khác. Hai đỉnh núi được đi hai con
đường khác nhau: Một theo hướng Lạc Dương, một theo ngả Thái Phiên. Hồi
trước, nối liền hai đỉnh núi này có một con đường mòn quanh co qua một
thung lũng, nhưng bây giờ cây rừng đã che mất.
Suối Vàng
Suối
Vàng nằm về phía Bắc Đà Lạt, cách trung tâm thành phố 12km. Khu vực
trầm mặc và thơ mộng này với những đồi cỏ thênh thang là nơi bác sĩ
Yersin đã đề nghị thành lập trung tâm thành phố nghỉ mát. Nhưng sau khi
khảo sát địa thế vùng này không thấy thuận lợi; hơn nữa gần chân núi, độ
ẩm cao, không thoáng khí như ở Đà Lạt nên vùng này vẫn còn khá hoang sơ
như ngày nay.
Tuy vậy gần đây đã có bao dự kiến
xây dựng Suối Vàng thành khu du lịch thứ 2 sau Đà Lạt. Vùng đất tuyệt
đẹp này với những mặt hồ lãng đãng khói sương đã thu hút không biết bao
nhiêu du khách. Dưới chân đồi ven hồ là một rừng thông non xanh thẳm nổi
lên trên những cụm đồi tròn nhấp nhô chạy tít đến chân núi Lang Biang.
Đó là những sân cù lý tưởng trong tương lai.
Suối
Vàng có 1 thác nước và 2 hồ lớn. Hồ Ankroet ở dưới và hồ Dankia ở trên.
Hai hồ này được tạo bởi 2 đập nước cùng tên chắn sông Đa Dung, phát
nguyên từ núi Lang Biang. Sức chứa 2 hồ khoảng 21 triệu khối nước, được
dùng để chạy máy phát điện tại nhà máy thủy điện Ankroet. Công trình này
được xây dựng hai giai đoạn 1945 và 1953, công suất thiết kế 3.100
kW/h, nhưng do máy móc cũ, gần đây chỉ đạt 2.400 kW/h.
Thác Cam Ly
Thác
Cam Ly là thác gần trung tâm thành phố Đà Lạt nhất, chỉ cách khu Hòa
Bình 2,3 km về phía Đông - Nam, ở gần nhà số 68 đường Hoàng Văn Thụ. Lộ
trình đến thác Cam Ly: Khu Hòa Bình - Đường 3 tháng 2 - Hoàng Văn Thụ.
Thác
không đẹp và thường ít nước vào mùa khô nhưng nhờ vị trí gần trung tâm
thành phố nên du khách thường ghé thăm. Một chiếc cầu bắc ngang qua suối
Cam Ly phía trên thác giúp du khách đi từ bên này sang bên kia dòng
suối. Dưới chân thác là một vườn hoa nhỏ. Phong cảnh chung quanh thác
không còn hoang vu như ngày xưa.
Thác Cam Ly do Công ty dịch vụ du lịch Đà Lạt quản lý và khai thác, với tổng diện tích sử dụng là 16,5 ha.
Người
Lạch gọi thác Cam Ly là Liêng Tô Sra, về sau đổi thành thác Cam Ly mang
tên đoạn suối chảy từ Liêng Tô Sra đến sông Đạ Đờng.
Thác Datanla
Thác
Đa Tăng La (Datanla) ở ven quốc lộ 20 gần đèo Prenn, cách Đà Lạt gần 5
km. Nằm trong khu rừng dự trữ nên Đa Tăng La còn có vẻ đẹp hoang dã.
Nước đổ mạnh trên những tảng đá nhiều tầng chồng chất giữa hai triền dốc
tạo thành nhiều thác liên tiếp, có chỗ nước chảy giữa khe nứt tạo thành
hố sâu gọi là “Vực tử thần”.


Ảnh: Đi tàu trượt xuống thác
Du khách muốn xuống tham quan thác phải đi bộ theo một trong hai con đường dốc quanh co với trên 200 bậc cấp.
Phía dưới thác Đa Tăng La là một chuỗi thác khác, hùng vĩ nhất là thác Đoong Nham, đường khó đi.
Đa
Tăng La là biến âm của tên dòng suối Đa Pơrla, người Lạch gọi thác Đa
Tăng La là Liêng Đu Rpu Kwăng (con trâu đực té) vì theo truyền thuyết,
ngày xưa có một con trâu đực té xuống thác này.
Thác Pongour
Nằm
trên địa bàn xã Tân Hội, huyện Đức Trọng, cách Đà Lạt 45km, cách đường
quốc lộ 20 khoảng 7 km. Thác thuộc loại đẹp, hùng vĩ nhất Tây Nguyên với
chiều cao hơn 20m, bề mặt thác dài hàng trăm mét và một thềm thác rộng
hàng chục ha có thể tổ chức vui chơi cho hàng ngàn người một lúc. Các
nhà du lịch đã không ngần đặt cho Pongour biệt hiệu “Nam Phương đệ nhất
thác”.
Theo truyền thuyết của đồng bào dân tộc
thì thác gắn liền với câu chuyện về nàng Ka Nai - một Tù trưởng xinh đẹp
đã có công xây dựng nên cuộc sông thịnh vượng của đồng bào K’ho. Tương
truyền Ka Nai có 4 con tê giác và Ponguor là dấu vết các con tê giác cắm
sừng xuống đất.
Từ nhiều năm nay, Ponguor có
ngày hội thác vào rằm tháng giêng hàng năm và ngay này đã trở thành một
ngày vui chơi xuân của thanh niên Đà Lạt - Lâm Đồng với nhiều trò chơi
dân gian, các nghi lễ văn hóa truyền thống của các dân tộc bản địa. Thác
hiện do công ty TNHH Đất Nam (thành phố Hồ Chí Minh) quản lý và khai
thác.
Thác Prenn
Trên
đường từ TP. Hồ Chí Minh lên Đà Lạt, vừa qua khỏi ranh giới của thành
phố Đà Lạt với huyện Đức Trọng, du khách gặp thác Prenn.
Thác Prenn nằm sát ngay bên cạnh quốc lộ 20, dưới chân đèo Prenn.
Từ
trên cao, nước đổ qua một vòm đá huyền vũ rơi xuống, trải đều như một
bức rèm trắng xóa đẹp tựa như mái tóc của nàng tiên, do đó thác còn có
tên là Tiên Sa.
Khách đến tham quan thác Prenn
thích thú đi qua chiếc cầu nhỏ bắc trong lòng thác, để mặc cho bụi nước
tung tóe bám vào người, mang lại một cảm giác sảng khoái đặc biệt.
Trong những năm 1960, thác Prenn có một vườn thú nhỏ với voi, cọp, gấu, hươu, nai, khỉ, trăn, công...
Khu du lịch thác Prenn do Công ty dịch vụ du lịch Đà Lạt quản lý và khai thác.
Trước
đây, phía trên thác Prenn có buôn Prền, nên thác mang tên gọi phổ biến
là Prenn. Người Lạch gọi thác Prenn là Liêng Tarding.
Trong
ngôn ngữ Lạch, Prền là tên gọi của cây cà đắng, nhưng buôn Prền là một
địa danh không thể giải thích được như một số địa danh khác của người
Lạch.
Thác Hang Cọp
Vài
năm trở lại đây, du khách đến Đà Lạt có nghe nói đến thác Hang Cọp, một
thắng cảnh mới khai thác ở vùng Trại Mát thuộc phường 11, thành phố Đà
Lạt. Nhưng đi đến thác để tận mắt ngắm nhìn cảnh đẹp này thì còn ít
người đi tới được bởi đường đến thác tuy không xa nhưng lại khó đi.
Từ
trung tâm thành phố Đà Lạt đi về phía Trại Mát theo quốc lộ 20 (quốc lộ
11 cũ) đến nhà thờ Trại Mát, khoảng non 10 cây số, có một ngã rẽ đi vào
một con đường đất ở phía tay trái, đó là đường vào thác Hang Cọp.
Qua
hơn 5 km đường đất quanh co dưới tán rừng thông, qua những con dốc xuôi
thoai thoải chằng chịt rễ cây, khách đã nghe tiếng thác chảy réo rắt từ
xa xa. Không gian ở đây rất im vắng, không bị khuấy động bởi tiếng ồn
ào của phố thị. Nắng vàng xuyên qua lá thông chiếu xuống một thứ ánh
sáng làm mát dịu con đường đi.
Sau khi lội qua
một con suối nhỏ nước chảy trong veo là đã đến đầu ngọn thác. Từ đó,
theo một bậc cấp bằng xi măng đi xuống vực sâu, hai bên cây lá chen chúc
dày đặc. Đến chân thác, hơi nước tỏa mù như sương, khí đá bốc ra lạnh
ngắt và ẩm ướt. Từ chân thác ngước mắt nhìn lên: một cột nước trắng xóa
từ núi đá cao đổ xuống, dội ầm ì vào một hố nước sâu rồi thoát đi theo
một dòng suối ngoằn ngoèo qua các tảng đá lớn và lặng lờ chìm lẫn vào
rừng cây rậm rạp.
Thác cao ước khoảng 25m, rộng
hơn 10m. Đến mùa mưa, nước nhiều, dòng thác trải rộng khoảng hơn 5m, mùa
nắng thì dòng thác hẹp hơn nhưng vẫn đổ xuống với tốc độ rất nhanh và
mạnh tạo thành những mảng bọt trắng xóa tràn lên các tảng đá hoa cương
lớn nằm dưới chân thác. Cảnh vật quanh thác còn hoang sơ: rừng thông ở
trên đồi cao thẳng đứng dưới bầu trời xanh trong, ở dưới lũng sâu là
nhiều loại cây tạp, cây lá rộng khác chen chúc rậm rạp, cành lá đan xen
mà ánh nắng mặt trời không chiếu xuyên qua được. Nếu như không có những
bậc cấp bằng xi măng dẫn xuống thác thì đứng ở đây khách sẽ ngỡ như đứng
giữa khoảng rừng núi âm u chưa có dấu chân người.
Thung lũng tình yêu
Năm
1972, hồ Đa Thiện rộng 6 ha được hình thành sau khi một đập nước được
xây dựng ngăn giữa hai ngọn đồi để giữ nước phục vụ sản xuất và tạo nên
một thắng cảnh thơ mộng với mặt hồ phẳng lặng giữa những đồi thông trùng
điệp.
Năm 1972, hồ Đa Thiện rộng 6 ha được hình
thành sau khi một đập nước được xây dựng ngăn giữa hai ngọn đồi để giữ
nước phục vụ sản xuất và tạo nên một thắng cảnh thơ mộng với mặt hồ
phẳng lặng giữa những đồi thông trùng điệp.
Đập nước này thường gọi là Đập III Đa Thiện. Trước đó, Đa Thiện đã xây dựng 2 đập nước khác, nhỏ hơn dùng cho trồng rau.
Thung lũng hồ Đa Thiện được mang tên Thung lũng Tình yêu (Vallée d’Amour) và giải thích theo hai cách:
-
Trong
nửa đầu thế kỷ 20, thung lũng gần Dinh Bảo Đại (Dinh III) được gọi là
Vallée d’Amour (Thung lũng Tình yêu), sinh viên Viện Đại học Đà Lạt nhận
thấy thung lũng gần ấp Đa Thiện là nơi hẹn hò lý tưởng của thanh niên
nên cũng đặt tên là Thung lũng Tình yêu.
-
Hướng đạo sinh thường cắm trại ở thung lũng Đa Thiện và đặt tên Thung lũng Tình yêu với ý nghĩa tình yêu thiên nhiên, đất nước.
Cách
Khu Hoà Bình 4,6 km về hướng Bắc theo đường chim bay. Thung lũng Tình
yêu là một trung tâm du lịch thanh thiếu niên do Công ty dịch vụ du lịch
thanh niên Đà Lạt quản lý, với diện tích 342 ha. Du khách đến tham quan
thường dừng lại trên đồi cao, chụp ảnh, ngắm nhìn toàn cảnh đồi núi
chập chùng, đỉnh núi Lang Biang án ngữ phía Bắc, cưỡi ngựa, đi xe đạp
nước, dùng du thuyền lướt trên mặt hồ, mua đặc sản hay tổ chức những bữa
ăn dã ngoại nhẹ nhàng.
Có 3 lộ trình đi từ Khu Hoà Bình đến Thung lũng Tình yêu:
-
Khu Hòa Bình - Lê Đại Hành - Nguyễn Thái Học - Đinh Tiên Hoàng - Phù Đổng Thiên Vương - Đường vòng Lâm Viên.
-
Khu Hòa Bình - Nguyễn Văn Trỗi - Bùi Thị Xuân - Phù Đổng Thiên Vương - Đường vòng Lâm Viên.
-
Khu Hòa Bình - Lê Đại Hành - Nguyễn Thái Học - Bà Huyện Thanh Quan - Nguyên Tử Lực - Đường vòng Lâm Viên
(st)